Trong di sản triết học và thần học Kinh viện, bản tính của các thụ tạo thần thiêng luôn là một trong những chủ đề nền tảng mang tính phức tạp cao. Bản dịch mục 50, phần 2 trong Tổng luận Thần học dưới đây trình bày lập luận của St. Thomas Aquinas nhằm giải quyết một vấn nạn siêu hình học kinh điển: Liệu thiên thần – những bản thể trí tuệ vượt trên giới tự nhiên – có được cấu tạo từ Chất thể (Matter) và Mô thể (Form) như vạn vật hữu hình hay không?
Bằng việc phân tích và bác bỏ quan điểm của Avicebron trong tác phẩm Fons Vitae, Aquinas từng bước khẳng định tính phi vật chất tuyệt đối của các thiên thần. Hơn thế nữa, ngài vạch ra một ranh giới bản thể luận vô cùng rõ ràng: sự vắng mặt của chất thể không đồng nghĩa với việc thiên thần trở thành Hiện thể thuần túy (Actus purus) như Thiên Chúa. Các ngài vẫn vĩnh viễn là thụ tạo, bị giới hạn bởi một sự cấu tạo tinh tế bậc cao giữa Mô thể (Quod est) và Sự hiện hữu (Quo est).
Khi bắt đầu đọc phần này, nếu bạn chưa có khái niệm về Chất thể và Mô thể, có thể bạn sẽ khó nắm bắt luận ý của St. Aquinas, do vậy bạn có thể tham khảo qua khái niệm này, tại đây.
Vấn nạn 1: Dường như thiên thần được cấu tạo từ chất thể (matter) và mô thể (form). Bởi lẽ, mọi sự vật nằm trong bất kỳ một giống (genus) nào đều được cấu tạo từ giống đó, và từ một dị biệt (difference / differentia) – yếu tố mà khi thêm vào giống sẽ tạo thành loài (species). Nhưng giống thì xuất phát từ chất thể, còn dị biệt thì xuất phát từ mô thể (Metaph. xiii, text 6). Do đó, mọi sự vật thuộc một giống thì đều được cấu tạo từ chất thể và mô thể. Nhưng thiên thần thuộc về giống của bản thể (substance). Do đó, ngài được cấu tạo từ chất thể và mô thể.
Vấn nạn 2: Hơn nữa, ở đâu có các đặc tính của chất thể, ở đó có chất thể. Mà các đặc tính của chất thể là tiếp nhận (receive) và làm nền tảng tự lập (substand/substare); do đó Boethius nói (De Trin.) rằng “một mô thể đơn thuần (simple form) không thể là một chủ thể (subject)”: và những đặc tính trên đều được tìm thấy nơi thiên thần. Do đó, thiên thần được cấu tạo từ chất thể và mô thể.
Vấn nạn 3: Hơn nữa, mô thể là hiện thể (act). Vậy nên điều gì chỉ là mô thể thì là hiện thể thuần túy (pure act/actus purus)1. Nhưng thiên thần không phải là hiện thể thuần túy, vì điều này chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa. Do đó, thiên thần không chỉ là mô thể, mà ngài có một mô thể ngụ trong chất thể.
Vấn nạn 4: Hơn nữa, mô thể được giới hạn và kiện toàn một cách thích đáng bởi chất thể. Do đó, mô thể nào không ngụ trong chất thể thì là một mô thể vô hạn (infinite form). Nhưng mô thể của thiên thần không hề vô hạn, vì mọi thụ tạo đều hữu hạn. Do đó, mô thể của thiên thần ngụ ở trong chất thể.
Trái lại, Dionysius nói (Div. Nom. iv): “Các thụ tạo đầu tiên được hiểu là phi vật chất (immaterial) cũng y như việc chúng vô thể (incorporeal) vậy.”
Tôi trả lời rằng: Một số người quả quyết rằng các thiên thần được cấu tạo từ chất thể và mô thể; quan điểm này đã được Avicebron nỗ lực thiết lập trong cuốn sách Suối Nguồn Sự Sống (Fons Vitae) của ông. Bởi ông giả định rằng bất cứ điều gì được phân biệt bởi trí tuệ thì cũng thực sự phân biệt trong thực tại. Mà đối với các bản thể vô thể, trí tuệ lĩnh hội được đâu là yếu tố phân biệt nó khỏi bản thể vật thể, và đâu là yếu tố mà nó có chung với bản thể vật thể. Do đó, ông kết luận rằng: yếu tố phân biệt bản thể vô thể khỏi bản thể vật thể đóng vai trò như một loại mô thể đối với nó; và bất cứ điều gì làm nền tảng lệ thuộc cho mô thể phân biệt này, như thể là một yếu tố chung, chính là chất thể của nó. Vì vậy, ông quả quyết rằng chất thể phổ quát của các sự vật thần thiêng (spiritual) và sự vật vật thể (corporeal) là như nhau; đến mức ta phải hiểu rằng mô thể của bản thể vô thể được in dấu vào chất thể của các sự vật thần thiêng, theo cùng một cách như mô thể của lượng (form of quantity) được in dấu vào chất thể của các sự vật vật thể.
Nhưng chỉ cần nhìn qua cũng đủ để thấy rằng không thể có chung một chất thể cho các sự vật thần thiêng và các sự vật vật thể. Bởi lẽ, không thể nào một mô thể thần thiêng và một mô thể vật thể lại được tiếp nhận vào cùng một phần chất thể, nếu không thì một và cùng một sự vật sẽ vừa mang tính vật thể vừa mang tính thần thiêng. Do đó, hệ quả sẽ là: một phần của chất thể tiếp nhận mô thể vật thể, và một phần khác tiếp nhận mô thể thần thiêng. Tuy nhiên, chất thể không thể phân chia thành các phần ngoại trừ khi được xem xét dưới lăng kính của lượng (quantity); và nếu không có lượng, bản thể là bất khả phân chia, như Aristotle nói (Phys. i, text 15). Do đó, hệ quả sẽ là chất thể của các sự vật thần thiêng phải lệ thuộc vào lượng; điều này là bất khả. Vì vậy, việc các sự vật vật thể và sự vật thần thiêng có chung một chất thể là điều không thể xảy ra.
Hơn nữa, một bản thể có trí tuệ (intellectual substance) không thể có bất kỳ loại chất thể nào. Bởi lẽ, hoạt động thuộc về bất kỳ sự vật nào cũng đều phải thuận theo phương thức bản thể của nó. Mà hoạt động hiểu biết (to understand) là một hoạt động hoàn toàn phi vật chất, như được tỏ bày từ đối tượng của nó, cũng là nơi mà bất kỳ hành động nào cũng nhận được loài (species) và bản tính của nó. Vì một sự vật được hiểu biết dựa theo mức độ phi vật chất của nó; bởi các mô thể tồn tại trong chất thể là những mô thể cá biệt (individual forms) mà trí tuệ không thể lĩnh hội chúng như những cá biệt. Do đó, nhất thiết là mọi bản thể cá biệt (individual substance)2 phải hoàn toàn phi vật chất.
Nhưng những sự vật được phân biệt bởi trí tuệ không nhất thiết phải khác biệt trong thực tại; bởi vì trí tuệ không lĩnh hội các sự vật theo phương thức của chính sự vật, mà lĩnh hội theo phương thức riêng của trí tuệ. Do đó, các sự vật vật chất vốn thấp kém hơn trí tuệ của chúng ta lại tồn tại trong trí tuệ của chúng ta theo một phương thức đơn thuần (simpler) hơn là chúng tồn tại trong chính chúng. Mặt khác, các bản thể thiên thần thì vượt cao hơn trí tuệ của chúng ta; và do đó, trí tuệ chúng ta không thể đạt đến việc lĩnh hội các ngài như các ngài là trong chính bản thân ngài, nhưng chỉ có thể lĩnh hội bằng phương thức riêng của trí tuệ, theo như cách nó lĩnh hội các sự vật phức hợp (composite things); và cũng theo cách thức này, nó lĩnh hội Thiên Chúa (Q. 3).
Phúc đáp Vấn nạn 1: Chính dị biệt (difference) là điều cấu thành loài (species). Mà mọi sự vật được cấu thành trong một loài là tùy theo việc nó được quy định cho một cấp độ hiện hữu (grade of being) đặc thù nào đó, bởi vì “các loài của sự vật giống như những con số”, khác biệt nhau bằng việc cộng thêm hoặc trừ đi một đơn vị, như Triết gia nói (Metaph. viii, text 10). Nhưng ở các sự vật vật chất, có một yếu tố quyết định cấp độ đặc thù, và đó là mô thể (form); và có một yếu tố khác được định hình, và đây là chất thể (matter); do đó, từ yếu tố sau phát sinh ra giống (genus), và từ yếu tố trước phát sinh ra “dị biệt”. Trong khi đó, ở các sự vật phi vật chất, không có sự tách rời giữa yếu tố định hình (determinator) và yếu tố được định hình (thing determined); tự chính nó, mỗi sự vật nắm giữ một cấp độ xác định trong hiện hữu; và do đó, nơi chúng, giống và “dị biệt” không phát sinh từ các yếu tố khác nhau, mà từ một và cùng một yếu tố. Dẫu vậy, điều này lại tạo ra sự khác biệt trong phương thức khái niệm hóa của chúng ta; bởi chừng nào trí tuệ của chúng ta coi sự vật đó như một điều chưa xác định (indeterminate), nó rút ra ý niệm về giống; và chừng nào nó coi sự vật đó một cách xác định (determinately), nó rút ra ý niệm về “dị biệt”.
Phúc đáp Vấn nạn 2: Lý luận này được đưa ra trong cuốn sách Suối Nguồn Sự Sống, và nó sẽ mang tính thuyết phục, nếu giả sử rằng phương thức tiếp nhận của trí tuệ và của chất thể là như nhau. Nhưng điều này rõ ràng là sai lầm. Vì chất thể tiếp nhận mô thể để nhờ đó nó có thể được cấu thành trong một loài nào đó, có thể là không khí, lửa, hoặc một thứ gì khác. Nhưng trí tuệ không tiếp nhận mô thể theo cùng cách thức như vậy; nếu không thì quan điểm của Empedocles (De Anima i, 5, text 26) sẽ là đúng, ở chỗ cho rằng chúng ta biết đất bằng đất, và biết lửa bằng lửa. Mà mô thể khả niệm (intelligible form) ngự trong trí tuệ theo chính bản tính của một mô thể; vì dưới tư cách là mô thể, nó được trí tuệ nhận biết như vậy. Do đó, cách thức tiếp nhận như vậy không phải là cách thức của chất thể, mà là của một bản thể phi vật chất.
Phúc đáp Vấn nạn 3: Mặc dù không có sự cấu tạo từ chất thể và mô thể nơi một thiên thần, nhưng vẫn tồn tại hiện thể (act) và tiềm thể (potentiality). Và điều này có thể trở nên hiển nhiên nếu chúng ta xem xét bản tính của các sự vật vật chất, vốn bao hàm một sự cấu tạo kép. Cấu tạo thứ nhất là giữa mô thể và chất thể, nhờ đó bản tính (nature) được thiết lập. Nhưng một bản tính phức hợp như vậy không phải là chính sự hiện hữu (existence) của nó, mà sự hiện hữu mới là hiện thể của nó. Do đó, chính bản tính có mối tương quan với sự hiện hữu của nó giống như tương quan của tiềm thể (potentiality) đối với hiện thể (act). Vì vậy, nếu không có chất thể, và giả sử rằng chính mô thể tồn tại tự lập (subsists) mà không cần chất thể, thì dẫu sao vẫn còn đó mối tương quan giữa mô thể với chính sự hiện hữu của nó, như tương quan của tiềm thể đối với hiện thể3. Và một dạng cấu tạo như vậy được hiểu là có nơi các thiên thần; và đây là điều mà một số người nói rằng: thiên thần được cấu thành từ “cái nhờ đó mà ngài hiện hữu” (whereby he is / quo est) và “cái ngài là” (what is / quod est), hoặc từ “sự hiện hữu” (esse) và “cái ngài là”, như Boethius đã diễn đạt4. Bởi lẽ “cái ngài là” chính là mô thể đang tồn tại tự lập; và bản thân sự hiện hữu là yếu tố nhờ đó mà bản thể hiện hữu; giống như việc chạy là yếu tố nhờ đó mà người chạy đang chạy. Nhưng ở nơi Thiên Chúa, “sự hiện hữu” và “cái Người là” không hề khác biệt nhau như đã được giải thích ở trên (Q. 3, A. 4). Do đó, chỉ một mình Thiên Chúa mới là hiện thể thuần túy (pure act).
Phúc đáp Vấn nạn 4: Mọi thụ tạo tự nó là hữu hạn, theo nghĩa là sự hiện hữu của nó không tự lập một cách tuyệt đối (absolutely subsisting), mà bị giới hạn trong một bản tính nhất định mà nó thuộc về. Nhưng không có gì mâu thuẫn khi một thụ tạo được coi là vô hạn một cách tương đối. Các thụ tạo vật chất vô hạn về mặt chất thể, nhưng lại hữu hạn ở mô thể của chúng, vốn bị giới hạn bởi chất thể tiếp nhận nó. Trái lại, các bản thể thụ tạo phi vật chất thì hữu hạn trong “hữu thể” (being) của chúng; trong khi chúng lại vô hạn theo ý nghĩa là các mô thể của chúng không bị tiếp nhận vào trong bất cứ thứ gì khác; lấy ví dụ, điều này giống như việc chúng ta nói rằng: “sự trắng” (whiteness) tồn tại tách biệt thì vô hạn khi xét đến bản tính của sự trắng, bởi lẽ nó không bị co cụm (contracted) vào bất kỳ chủ thể nào; nhưng “hữu thể” của nó lại hữu hạn do bị quy định vào một bản tính đặc thù nào đó.
Từ đó, người ta mới nói (De Causis, prop. 16) rằng “trí tuệ thì hữu hạn từ bên trên”, vì nó lãnh nhận hữu thể của mình từ Đấng cao cả hơn chính nó, và “vô hạn từ bên dưới”, vì nó không bị tiếp nhận vào trong bất kỳ chất thể nào.
- Hiện thể thuần túy (Actus purus): Đây là thuật ngữ trung tâm trong triết học Kinh viện dùng để chỉ Thiên Chúa. Vạn vật đều là sự pha trộn giữa “Tiềm thể” (khả năng có thể trở thành) và “Hiện thể” (sự hoàn thiện đang là). Vì Thiên Chúa là đấng hoàn hảo tuyệt đối, nơi Ngài không có bất kỳ khả năng chưa được thực hiện nào, Ngài là Hiện Thể Thuần Túy. Vấn nạn này đặt ra sự lo ngại rằng: nếu bác bỏ chất thể nơi thiên thần, ta có thể đánh đồng thiên thần với Thiên Chúa. Aquinas giải quyết điều này ở Phúc đáp 3. ↩︎
- Bản thể cá biệt (Individual substance): Ở đoạn này, văn bản gốc tiếng Latinh dùng cụm từ “omnem substantiam intelligentem” (mọi bản thể có trí tuệ), nhưng bản dịch tiếng Anh của Fathers of the English Dominican Province mà bạn trích dẫn lại ghi là “every individual substance”. Để đảm bảo độ sát nghĩa với văn bản bạn đưa, tôi giữ nguyên “bản thể cá biệt”, nhưng dưới góc độ tư tưởng học thuật, Aquinas thực chất đang muốn nhấn mạnh đến các “bản thể trí tuệ” (intellectual substances – tức các Thiên thần). ↩︎
- Tương quan Mô thể và Sự hiện hữu: Aquinas cho rằng một thiên thần không có chất thể, ngài chỉ là Mô Thể (Forma) đứng độc lập. Tuy nhiên, thiên thần không phải là Thiên Chúa, vì yếu tính (Essence) của ngài không phải là sự hiện hữu (Esse). Ngài vẫn là một Tiềm thể cần được nhận lãnh “Sự hiện hữu” từ Thiên Chúa. Đây là sự phân biệt nền tảng của thuyết Thomism so với triết học Aristotle. ↩︎
- Quo est và Quod est: Thuật ngữ lấy từ Boethius. Quod est (Cái ngài là) chỉ về Bản tính/Yếu tính (Essence), tức điều làm cho sự vật là chính nó. Quo est (Cái nhờ đó ngài hiện hữu) chỉ về Hành động hiện hữu (Esse/Existence). Nơi Thiên Chúa, hai khái niệm này là một. Nơi thiên thần, chúng tách biệt và tạo nên sự “tổng hợp” (composition) giới hạn sự hoàn hảo của thiên thần, khiến ngài dẫu không có vật chất nhưng vẫn chỉ là thụ tạo. ↩︎
