Có bao giờ các bạn tự hỏi, việc chúng ta miệt mài học về Thiên Chúa, đọc Kinh Thánh, nghiên cứu giáo lý rốt cuộc là để làm gì chưa? Phải chăng thần học giống như một cuốn cẩm nang hướng dẫn sửa xe, dạy chúng ta cách hành xử để trở thành người tốt, hay nó là một điều gì đó thiêng liêng và sâu thẳm hơn thế? Đó chính là thao thức mà Thánh Thomas đã đặt ra trong Phần I, Vấn đề 1, Mục 4 của bộ Tổng luận, khi ngài tự hỏi: liệu giáo lý thánh thiêng có phải là một môn học mang tính thực hành không?
Để đi vào tâm trí của vị tu sĩ Đa-minh này, trước tiên, chúng ta cần gỡ rối hai khái niệm nền tảng mượn từ triết học thời cổ đại của Aristote. Trong thế giới triết học, người ta chia tri thức con người ra làm hai hướng đi chính, đó là khoa học thực hành và khoa học chiêm niệm. Các bạn hãy tưởng tượng về một người thợ mộc cặm cụi trong xưởng gỗ với cưa và bào. Anh ta học về các loại vân gỗ và cách đo đạc không phải để cất trong đầu, mà để tạo ra một chiếc bàn vững chãi. Đó chính là bức tranh của khoa học thực hành, nơi tri thức được dùng để hướng dẫn hành động, để làm ra một sản phẩm hoặc định hình các nguyên tắc luân lý đời thường.
Thế nhưng, thế giới không chỉ có những người thợ mộc hay những công trình xây dựng. Hãy hình dung một nhà thiên văn học đứng trên ngọn đồi vắng trong đêm tối, say sưa ngắm nhìn dải ngân hà lấp lánh. Ông tính toán quỹ đạo của các vì sao không phải để chế tạo ra chúng, mà chỉ đơn thuần để khao khát thấu hiểu vẻ đẹp kỳ vĩ của vũ trụ bao la. Trạng thái vươn tới chân lý chỉ vì lòng yêu mến chính chân lý ấy được gọi là khoa học chiêm niệm. Nó không đòi hỏi ta phải đẽo gọt hay nhào nặn ra bất cứ điều gì, mà mời gọi ta mở rộng tâm trí để thấu triệt thực tại y như nó vốn là.
Vậy thì, khoa học thiêng liêng về Thiên Chúa thuộc về bức tranh nào trong hai điều trên? Thoạt nhìn, có lẽ nhiều bạn sẽ nghĩ ngay nó là một môn thực hành dùng để rèn luyện tư cách con người. Bởi lẽ, Kinh Thánh chứa đầy những lề luật, Mười Điều Răn và vô số lời khuyên răn về cách sống đạo đức giữa trần gian. Chúng ta rất dễ đi đến kết luận rằng thần học chỉ là một bộ quy tắc dạy con người cách ăn ngay ở lành, định hướng hành vi nhân linh để đạt được ơn cứu độ. Đó cũng chính là những băn khoăn rất đỗi tự nhiên, những chướng ngại vật mà Thánh Thomas đã cố tình đặt ra trước khi đưa ra câu trả lời xuất chúng của mình.
Thánh Thomas đã mỉm cười và trả lời rằng, giáo lý thánh thiêng vĩ đại hơn và vượt lên trên sự phân chia chật hẹp của tri thức loài người. Nó mang trong mình cả tính thực hành lẫn tính chiêm niệm, bởi vì môn học này không bắt nguồn từ trí óc con người, mà là sự chia sẻ trực tiếp vào Tri thức Thần linh. Thiên Chúa, bằng một cái nhìn duy nhất trọn vẹn, vừa thấu hiểu chính Bản thể thẳm sâu của Ngài, vừa nhìn thấu vạn vật do tay Ngài tạo tác. Do đó, thứ khoa học thiêng liêng này cũng ôm trọn cả hai chiều kích ấy: vừa dạy ta thấu hiểu về Đấng Tối Cao, vừa hướng dẫn cách ta sống trong thế giới của Ngài. Quỷ học chỉ đơn thuần là một nhánh của Thần học, NHƯNG, chúng ta không phải chiêm niệm về Quỷ ma, mà chiêm niệm về sự đau khổ khi khước từ ân điển của Thiên Chúa, chúng ta nhìn ngắm những thứ Quỷ ma, để hiểu rằng vinh quang của Thiên Chúa là điều tốt đẹp biết bao.
Do đó, Ngài nhấn mạnh một mệnh đề chốt hạ rằng: Thần học trước hết và chủ yếu là một khoa học chiêm niệm chứ không phải một môn thực hành. Tại sao lại như vậy? Hãy nhớ lại ví dụ về ánh sáng mặt trời rực rỡ chiếu xuyên qua một lăng kính pha lê. Những vệt sáng bảy màu hắt lên tường, dù lung linh đến đâu, cũng chỉ là hệ quả phản chiếu của chính nguồn sáng mặt trời vĩ đại kia. Những quy tắc đạo đức, những luật lệ hay hành vi thiện hảo của con người dẫu rất cần thiết, cũng chỉ là những vệt sáng lăng kính, là con đường dẫn chúng ta ngược trở về với Nguồn Cội. Cũng như vậy, điều người mù từ bỏ đầu tiên khi sáng mắt là cây gậy, còn chúng ta khi “thấy” được ánh sáng của Thiên quốc, Quỷ học là thứ phải từ bỏ.
Đối tượng tối hậu của giáo lý thiêng liêng không phải là hành động của con người, mà chính là Thiên Chúa – Thực tại Tuyệt đối. Chúng ta học về Chúa không phải để “sử dụng” Ngài như một công cụ giúp ta thành công hay đạt được hạnh phúc trần thế, mà để tâm hồn được biến đổi khi chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài. Những bài học về luân lý, về cách hành xử mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh không tự thân tồn tại như đích đến cuối cùng của nhịp sống đạo. Chúng chỉ là những nhịp cầu, những mũi tên chỉ đường giúp thanh tẩy tâm hồn, dọn chỗ cho trí tuệ sẵn sàng đón nhận tình yêu Thần linh.
Như vậy, Thánh Thomas đã rất nhẹ nhàng tháo gỡ những vướng mắc ban đầu mà không hề phủ nhận đi giá trị của đời sống đạo đức. Ngài cho chúng ta thấy rằng, lề luật không làm cho thần học bị giáng cấp thành một môn học thuần túy khô khan về việc phải làm gì và không được làm gì. Trái lại, toàn bộ mọi hành vi nhân linh của chúng ta đều được thâu tóm và hướng về một mục đích duy nhất, cao cả nhất, đó là chiêm ngưỡng và an nghỉ trong Thiên Chúa. Cuối cùng, mọi nỗ lực học hỏi của chúng ta đều là để chiêm nghiệm, để trái tim vỡ òa niềm vui sướng khi chạm được vào Đấng là Chân lý vĩnh cửu.
