Thánh Thomas Aquinas đã đặt ra một câu hỏi nghe có vẻ đầy tính khiêu khích trong Mục 5, Vấn đề 1 của bộ Tổng luận Thần học, rằng: Liệu Thần học, có thực sự cao quý hơn các môn khoa học khác hay không? Trong đời sống thường nhật, chúng ta thấy toán học cho ta những con số chính xác tuyệt đối, còn vật lý học giúp ta tính toán xây nên những cây cầu vững chãi. Vậy cớ sao một môn học dựa trên đức tin vô hình, đôi khi khiến tâm trí ta trăn trở, lại được xưng tụng là nữ hoàng của mọi khoa học?
Có lẽ ngay lúc này, tâm trí các bạn cũng đang vang lên những nghi ngại rất chính đáng mà chính Thánh Thomas đã cẩn thận ghi nhận. Chúng ta thường nghĩ một môn khoa học cao quý thì phải mang lại sự chắc chắn tuyệt đối, nhưng đức tin của con người đôi khi lại bị bủa vây bởi những đám mây mù của sự hoài nghi. Thêm vào đó, Thần học lại thường xuyên mượn triết học và các môn khoa học tự nhiên để diễn đạt và giải thích chân lý. Một kẻ đi vay mượn thì làm sao có thể tự xưng là độc lập và cao trọng hơn người cho mình vay?
Để gỡ rối những khúc mắc này, Thánh Thomas mời gọi chúng ta nhìn sâu vào bản chất của mọi nỗ lực tìm kiếm tri thức. Ngài mượn lăng kính của triết gia Aristotle để chia khoa học ra làm hai chiều kích: khoa học lý thuyết nhằm chiêm ngắm sự thật, và khoa học thực hành nhằm hướng dẫn hành động luân lý. Sự vĩ đại của triết lý Thomas nằm ở chỗ ngài chỉ ra rằng, giáo lý thánh thiêng là môn học duy nhất ôm trọn vẹn cả hai chiều kích này vào trong mình. Nó vừa mở mắt cho ta nhìn thấy mầu nhiệm của Thiên Chúa, vừa cầm tay dẫn ta bước đi trên con đường sống tốt lành.
Khi xét về mặt khoa học lý thuyết, sự cao quý của một môn học được đo lường bằng mức độ chắc chắn của nó và sự vĩ đại của đối tượng mà nó nghiên cứu. Về đối tượng, các môn khoa học đời thường chỉ nghiên cứu những tạo vật hữu hạn, vốn nằm dưới tầm tri thức của con người. Trong khi đó, Thần học vươn lên tận cõi vô biên để chiêm ngắm chính Thiên Chúa, Đấng vượt qua mọi giới hạn của lý trí phàm nhân. Về sự chắc chắn, khoa học phàm nhân dựa vào ánh sáng của lý trí tự nhiên, một thứ ánh sáng dù đẹp đẽ nhưng rất dễ bị đánh lừa bởi ảo giác và sai lầm. Ngược lại, Thần học múc lấy tri thức từ chính trí tuệ thần linh, một nguồn sáng vĩnh cửu không bao giờ vương chút sai lầm hay khiếm khuyết. Cũng chính vì vậy mà Quỷ học phải được nghiên cứu dựa trên Thần học, không thể nghiên cứu như một sự đối nghịch hay dùng các thiết bị để tìm gặp bằng chứng mà nghiên cứu.
Nhưng tại sao chúng ta lại hay hoài nghi đức tin nếu nó vốn dĩ rất chắc chắn? Thánh Thomas đã khéo léo giải thích điều này qua một hình ảnh rực rỡ từ hệ tư tưởng cổ đại. Hãy tưởng tượng về một chú dơi bay ra khỏi hang lúc giữa trưa, chú dơi bị chói lóa và không thấy gì, không phải vì mặt trời thiếu ánh sáng, mà vì đôi mắt của nó quá yếu ớt trước vầng thái dương. Tương tự như vậy, Thiên Chúa là một hiện thực thuần túy (actus purus), chói lọi và chan chứa chân lý trọn vẹn. Khi tâm trí bé nhỏ của chúng ta, vốn luôn ở trong trạng thái tiềm năng (potentia) chưa hoàn thiện, cố gắng nhìn thẳng vào Ngài, chúng ta lập tức bị choáng ngợp. Sự hoài nghi của con người không xuất phát từ sự thiếu chắc chắn của Thiên Chúa, mà từ chính sự yếu đuối và chật hẹp của đôi mắt tâm hồn chúng ta.
Tiếp theo, khi xét về mặt khoa học thực hành, giá trị của một môn học nằm ở mục đích tối hậu mà nó hướng tới. Triết học chính trị hay y học có thể giúp chúng ta kiến tạo một xã hội công bằng và duy trì một cơ thể khỏe mạnh, vốn là những điều vô cùng tốt đẹp nhưng chỉ dừng lại ở cõi tạm nương này. Thần học lại khác, nó nâng đỡ mọi nhịp đập trái tim và hướng mọi hành động của con người về hạnh phúc vĩnh cửu. Khi mục đích càng vĩnh cửu và cao cả, thì môn học dẫn đường đến mục đích ấy dĩ nhiên lại càng trở nên trác tuyệt.
Cuối cùng, chúng ta cần giải quyết băn khoăn về việc Thần học có đang “vay mượn” và lệ thuộc vào các môn học khác hay không. Hãy hình dung một vị kiến trúc sư trưởng đang xây dựng một ngôi thánh đường nguy nga mang tính biểu tượng. Ông ta dùng những giàn giáo bằng tre gỗ địa phương không phải vì ngôi thánh đường cần giàn giáo để đứng vững, bởi móng nhà đã đủ kiên cố và bản vẽ đã hoàn hảo. Ông dùng giàn giáo là để giúp những người thợ xây phàm trần có thể trèo lên, thi công và chạm tới những mái vòm cao vút.
Cũng vậy, Thần học mượn những khái niệm của triết học hay vật lý không phải vì Lời Chúa bị thiếu hụt hay cần sự bổ khuyết từ lý trí con người. Thiên Chúa thấu hiểu sự giới hạn của trí tuệ loài người nên Ngài cho phép Thần học sử dụng ngôn ngữ đời thường như những hệ thống giàn giáo, như những tùy thể (accidentia) linh hoạt và đa dạng. Tất cả sự vay mượn này nhằm nâng đỡ tâm trí chúng ta vươn lên nắm bắt lấy bản thể (substantia) vô hình và bất biến của mầu nhiệm. Qua đó, mọi môn khoa học khác không còn là đối thủ cạnh tranh, mà đã được thăng hoa thành những người tỳ nữ tận tụy, cùng quy tụ lại để phục vụ cho công cuộc chiêm ngắm Đấng Tối Cao.
Lúc này chúng ta phải hiểu rằng, Quỷ học cũng chỉ là một “loại giàn giáo”, một công cụ để ta nghiên cứu rồi tiến lên chân lý tốt đẹp hơn. Quỷ ma là một loại công cụ đặc biệt, phải người học hỏi vì điều thiện lành mới có thể sử dụng tốt được, giống như cây búa, cây đục của thợ nề, có thể làm ra những công trình vĩ đại, cũng có thể giết chết một con người.
