Tôi luôn nhận được câu hỏi liệu tôi có tin rằng ma quỷ thực sự tồn tại hay không. “Tất nhiên, tôi không nghĩ ma quỷ là có thật” đó là câu trả lời được mong đợi và cũng là câu trả lời tôi thường đưa ra. “Tôi là một người đàn ông hiện đại, thế tục, có học thức, tự do và theo thuyết bất khả tri. Tôi không tin vào quỷ dữ, ác thần, yêu tinh, ngạ quỷ, tiểu quỷ, ma cà rồng, người sói, bóng ma hay hiện tượng quấy phá (poltergeists).“
Tuy nhiên, mỗi khi xướng lên bài “vinh tụng ca” liệt kê tất cả những điều mà chúng ta không được phép tin ấy, tôi thầm cầu nguyện trong tâm trí, bởi vì phần lớn câu trả lời phụ thuộc vào định nghĩa của các từ “tin”, “ma quỷ”, “thực sự” và “có thật”.
Kể từ thời Khai sáng, giới trí thức phương Tây đã thừa hưởng một mô hình tri thức khá nghèo nàn được gọi là lý thuyết chân lý tương ứng (correspondence theory of truth), theo đó tính xác thực của một tuyên bố được xác định đơn giản bằng việc nó có khớp với thực tế hay không. Nếu tôi nói, “Con chó đang ở trong sân,” tuyên bố đó là đúng hoặc sai tùy thuộc vào việc con chó đó có ở trong sân hay không. Khá dễ hiểu, nhưng còn những câu như “Một vẻ đẹp là niềm vui vĩnh cửu” (A thing of beauty is a joy forever), “Tôi nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ thấy/một bài thơ đáng yêu như một cái cây,” hay “Tôi lang thang cô đơn như một đám mây” thì sao?
Việc tuân thủ một cách cực đoan lý thuyết chân lý tương ứng, được cổ vũ bởi các nhà thực chứng logic (logical positivists) và những kẻ dị giáo triết học khác, sẽ ném John Keats, Joyce Kilmer và William Wordsworth vào thùng rác dán nhãn “vô nghĩa” (mặc dù tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có thể xác định rằng có ý nghĩa ở đó, ngay cả khi đó là “sự thật nghiêng” [slant truth] mà Emily Dickinson từng viết). Và như thế, bạn có thể hình dung người ta sẽ phán xét thế nào về các tuyên bố liên quan đến thần thánh và ma quỷ (mặc dù theo đánh giá của tôi, Thần học thực chất luôn chỉ là một nhánh của thi pháp).
Việc lý thuyết chân lý tương ứng thậm chí không đáp ứng được các quy định khắt khe của chính nó về tính hợp pháp là một sự phi lý mang tính tự quy chiếu, tốt nhất nên bỏ qua; chỉ cần kết luận rằng nó là một mô hình kém hiệu quả trong việc mô tả những mảng lớn của trải nghiệm con người là đủ. Bạn có thể thấy khó khăn của tôi với câu hỏi liệu tôi có “thực sự” tin vào ma quỷ hay không — tôi bác bỏ toàn bộ thái độ nhận thức luận (epistemological) mà câu hỏi đó đặt ra.
Nếu câu hỏi được đặt ra với tinh thần xác định xem ma quỷ có tồn tại hữu hình như một con chó trong sân hay không, thì rõ ràng câu trả lời là phủ định. Tuy nhiên, trong những khoảnh khắc kinh hoàng tột độ khi chạm đến cốt lõi của sự linh thiêng (numinous) đã rạn nứt, tôi không thể không biết mình đã cảm thấy gì. Nụ cười méo mó và đôi mắt đỏ ngầu đó có thể không nhìn chằm chằm vào tôi từ ngoài sân, nhưng chúng đang nhìn lại tôi từ một nơi nào đó.
Trong số các cách tiếp cận mà con người hiện đại áp dụng khi xem xét Quỷ học, rõ ràng có chủ nghĩa duy văn tự (literalism) thô thiển, chủ nghĩa phủ nhận (denialism) cũng thô thiển không kém, và sau đó là một vùng trung gian rộng lớn quy giản ma quỷ thành “ẩn dụ” hoặc “biểu tượng”.
Đối với những người nghĩ rằng ma quỷ “có thật” như con chó trong sân, chẳng có gì nhiều để nói. Loại chủ nghĩa trệ bản (fundamentalism) như vậy là sự đầu hàng trước những đòi hỏi cấp bách của thời hiện đại; nó cũng mang tính thực chứng (positivist) như bất kỳ ai tuân theo lý thuyết chân lý tương ứng, nó chỉ đơn thuần chọn hướng tới điều mà bất kỳ ai cũng thấy là vô lý. Những người tuân thủ quan điểm này có thể nghĩ rằng họ đang tham gia vào một truyền thống tâm linh đáng kính, nhưng họ lại nắm giữ cùng một khuôn khổ nhận thức luận như bất kỳ nhà duy lý hay người hoài nghi nào, họ chỉ chọn tin vào một điều sai lầm rõ ràng.
Những người theo chủ nghĩa phủ nhận lại là một giống loài khác. Việc cứ nhai đi nhai lại sự không tồn tại của ma quỷ là bỏ lỡ vấn đề, giống như những người theo chủ nghĩa duy văn tự nhưng theo một hướng khác. Việc tự mãn nhấn mạnh rằng ma quỷ không có thật cũng giống như lập luận rằng “Chân lý là cái đẹp, cái đẹp là chân lý” là một sự vô lý vì nó không thể quy giản thành logic của ký hiệu; những kẻ loại bỏ chất thơ để ủng hộ tam luận (syllogism) đang sống một cuộc đời nông cạn. Đáng ghét nhất trong loại này là những kẻ bác bỏ bất cứ điều gì có vẻ nhuốm màu tâm linh, thần thánh, hay siêu việt, ném hàng thiên niên kỷ kinh nghiệm và biểu đạt của con người vào thùng rác chỉ vì nó không tuân theo một mô hình chân lý mới chỉ tồn tại vài chục thế hệ.
Hấp dẫn nhất có lẽ là những người duy trì quan điểm rằng ma quỷ là những biểu tượng giải thích đầy tiềm năng và quyền lực, rằng chúng là những phép ẩn dụ sâu sắc. Tất nhiên, lập trường như vậy có lợi thế là đúng một phần. Ma quỷ là những phép ẩn dụ mạnh mẽ. Ở Lucifer, chúng ta có biểu tượng của sự kiêu ngạo không kiềm chế; ở Azazel, sự pha trộn giữa thiện và ác; ở Moloch, sự kinh hoàng của thói tiêu thụ tham lam. Và tất nhiên, từ một góc nhìn nghĩa đen, người ta không cần phải tin rằng có một thực thể có cánh dơi trong lòng đất, hay những vị thần đầu dê, đầu bò rình rập trong đêm tối của chúng ta.
Tuy nhiên, việc quy giản cái ác (the demonic) thành thuần túy ẩn dụ cuối cùng vẫn mang lại cảm giác không thỏa đáng. Tôi không nói điều đó với bất kỳ sự tự mãn nào, vì ẩn dụ là phương tiện vĩ đại của ngôn ngữ, là nguyên tử của suy nghĩ và cảm xúc chúng ta, nơi không có sự biểu đạt thực sự nào của con người có thể diễn ra mà không có từ “như là” (like) đầy phước hạnh đó. Tuy nhiên, khi xem xét về ma quỷ, mô hình ẩn dụ đưa ra một sự hiểu biết chưa trọn vẹn về một thứ gì đó “thực hơn cả thực”, tồn tại trong một thứ thi ca đen tối được thốt ra bên ngoài ranh giới của ngôn từ đơn thuần.
Các danh xưng của quỷ mang tính hiệu năng (performative), chúng mang tính thần chú, mang tính nghi lễ, và mặc dù chúng không tương ứng với các vật thể “thực tế” trong thế giới “thực”, chúng lại hướng rất mạnh về cái gì đó đen tối đã nói ở trên.
Giữa lý thuyết chân lý tương ứng và lý thuyết chân lý ẩn dụ, tôi đề xuất một phương án thứ ba – rằng Quỷ học của chúng ta tuân theo một loại thực tại nào đó, nhưng là một thực tại bất khả ngôn (ineffable), ẩn giấu, không thể diễn tả, không thể đo lường hay thấu hiểu nhưng lại gần gũi với chúng ta hơn cả những nguyên tử trong hơi thở. Trong một lược đồ như vậy, người ta cho rằng các định đề của Quỷ học luôn mang tính thi ca, rằng chúng không phải để xác minh hay bác bỏ, và rằng cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) của từ “quỷ” vĩnh viễn bị trì hoãn.
Việc cho rằng những từ như “thuộc về quỷ” (demonic) hay “thuộc về Satan” (satanic) là những thuật ngữ ẩn dụ cho cái ác, rằng chúng mang trong mình tất cả những hàm ý văn hóa quá tải, là một chân lý hiển nhiên – nhưng chúng cũng hơn cả những ẩn dụ. Thực tại mà chúng ám chỉ đến, vốn thay đổi vô tận và luôn chuyển dịch, được lọc qua hàng thế kỷ và vô số nền văn hóa, tín ngưỡng? Tôi không biết, vì chưa bao giờ nhìn thấy phía sau bức màn.
Đó là bản chất của sự linh thiêng (the numinous); nó mãi mãi vượt quá sự hiểu biết đơn giản của tôi, hay nhận thức của bất kỳ ai khác. Trong cuốn Pandemonium, có sự nhấn mạnh về tầm quan trọng của các danh xưng ma quỷ – Azazel, Mephistopheles, Lucifer, Baphomet, Moloch,… – bởi vì khả năng gọi đúng tên một thứ gì đó là cốt yếu để kiểm soát nó, một nguyên tắc bất khả xâm phạm của Quỷ học1. Đừng nhầm lẫn lập luận cá nhân của tôi rằng những cái tên này đề cập đến các sự vật theo cùng một cách mà từ “ô tô” tương ứng với cái xe đang đậu trước nhà tôi. Những sự thật mà chúng truyền tải là thứ gì đó nguyên sơ, và khó định nghĩa hơn nhiều.
Nhà thần học Lutheran người Đức Paul Tillich đã viết trong cuốn Thần học Hệ thống (Systematic Theology – 1951) rằng: “Thiên Chúa không tồn tại. Ngài là chính bản thể, vượt lên trên bản chất và sự tồn tại. Do đó, lập luận rằng Thiên Chúa tồn tại chính là chối bỏ Ngài.” Trong chừng mực mà cái thuộc về ma quỷ nằm trong phạm vi của sự thiêng liêng (sacred) – nơi từ ngữ này không ám chỉ sự tốt lành mà là những thứ khác biệt với thực tại trần tục của chúng ta – tôi nghĩ rằng một nghịch lý tương tự cũng đúng với ma quỷ.
Những gì tôi đưa ra là một lý thuyết về Quỷ học được lọc qua cái mà tôi gọi là “Thi pháp Quỷ học” (Demonic Poetics). Là một từ mới, nó nhằm ám chỉ việc phân tích cách con người đã tương tác với thực tại linh thiêng này, cái “thứ ma quỷ” này, xuyên suốt lịch sử. “Thi pháp” vì có một sự hiểu biết rằng ngôn ngữ văn học là tương đối, mang tính phúng dụ, tượng trưng, ẩn dụ, và nó hướng về cái siêu việt; “Quỷ học” vì những lý do rõ ràng.2
Khi trình bày một lịch sử về Quỷ học, điều nhất thiết được giải thích là sự hiểu biết của nhân loại về chủ đề này thay vì chính thực tại đó, vì lý do đơn giản là thực tại đó không thể tiếp cận bằng lý trí. “Sự thật rất khó nắm bắt; nó năng động chứ không tĩnh tại; và nó tồn tại trong sự căng thẳng giữa người biết và cái được biết,” Jeffrey Burton Russell viết trong Mephistopheles: The Devil in the Modern World. “Chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt được chân lý tối hậu, nhưng chúng ta có thể hướng về chân lý đó bằng cách dấn thân, bằng cách suy nghĩ rõ ràng và không làm lẫn lộn các phạm trù.”
Sai lầm hàng đầu về phạm trù mà mọi người mắc phải là giả định rằng một chân lý khoa học là giống nhau trên mọi lĩnh vực trải nghiệm, một sai lầm vốn là tà thuyết của chủ nghĩa thực chứng. Điều đó hoàn toàn không phải là bác bỏ khoa học – còn lâu mới phải, vì như Russell làm rõ, phương pháp thực nghiệm là “hệ thống ấn tượng và kịch tính nhất trong trải nghiệm của con người“, nhưng điều đó đã khiến một số người lầm tưởng đó là hệ thống duy nhất, và do đó bác bỏ những chân lý mà trong thi ca và đức tin sẽ là vô nghĩa đối với khoa học (và chính trong lĩnh vực trước, ma quỷ đang trú ngụ).
Russell, người mà kiến thức và lập luận đã ghi dấu ấn sâu đậm lên Pandemonium, đã tìm kiếm một cách tiếp cận hiện tượng học (phenomenological) để hiểu về cái ác tuyệt đối, trong đó chủ đề về Satan và ma quỷ không thể được tiếp cận theo cách chúng ta thảo luận về phản ứng hóa học hay trình tự gen, mà thay vào đó bằng cách xem xét trải nghiệm của con người khi họ bị tác động bởi cái gì đó không thể diễn tả ẩn giấu bên ngoài cõi giác quan. Thái độ của ông là mặc dù “đúng là Ma quỷ không thể tồn tại theo nghĩa khoa học… hắn vẫn có thể tồn tại theo nghĩa thần học, theo nghĩa thần thoại, theo nghĩa tâm lý, và theo nghĩa lịch sử; và những cách tiếp cận này, giống như khoa học, có khả năng định hướng tới chân lý.”
Rõ ràng là nhiều người trong quá khứ đã tin vào ma quỷ theo nghĩa đen, và chúng hữu hình và trần trụi như một cái búa hay một cái ghế. Nhưng bởi vì phần lớn lịch sử nhân loại cũng trùng khớp với trải nghiệm về một thực tại đầy ma lực và mê hoặc, nên cũng luôn có quan điểm cho rằng ma quỷ (và tất cả những thứ thiêng liêng khác) cũng có một cấu tạo cao siêu, siêu việt, “thực hơn cả thực”.
Vì thời đại của chúng ta trở nên thiếu sức sống bởi sự chuyên chế của chủ nghĩa thực chứng, nơi sự giải ảo (disenchantment) quy giản mọi thứ về trạng thái bản thể luận của một cái búa hoặc một cái ghế, chúng ta có xu hướng không tin vào những thứ không thể đo lường và cân đong. Russell và tôi đồng ý rằng đó là một sai lầm triết học. Tôi không thấy lý do gì tại sao việc tôi không tin vào những con tiểu quỷ chạy nhảy trong bóng tối dưới tầng hầm nhà mình lại có nghĩa là tôi phải bác bỏ sự tồn tại của những con quỷ đang bò qua bóng tối trong linh hồn tôi. Để đạt được mục đích đó, tôi xin đưa ra một số nguyên tắc thúc đẩy công trình này:
Các Nguyên tắc của Thi pháp Quỷ học
- Dù ma quỷ có tồn tại hay không, trải nghiệm của con người về chúng chắc chắn tồn tại.
- Cái thuộc về ma quỷ (The demonic) là một mạng lưới các ẩn dụ, biểu tượng và hình ảnh định nghĩa cái ác; chúng thay đổi và tương tác với nhau theo những cách khác nhau qua các thế kỷ.
- Là biểu tượng, ma quỷ có thể mang những ý nghĩa biến thiên và thường mâu thuẫn nhau.
- Không có sự phân biệt rõ ràng giữa các phạm trù thẩm mỹ và huyền bí học (occult), và thi pháp Quỷ học là một khung diễn giải hiểu văn học và ma thuật về cơ bản là cùng một thứ.
- Một số loài quỷ luôn chiếm ưu thế về mặt biểu tượng trong một kỷ nguyên nhất định.
- Ma quỷ tồn tại ở điểm mấu chốt của cái siêu việt, cái linh thiêng, cái trác tuyệt; theo định nghĩa chúng là cái ác, nhưng theo định nghĩa chúng cũng là một khía cạnh của cái thiêng (sacred). Có một cái gì đó ở cốt lõi của hiện hữu bao gồm cả thần thánh và ma quỷ, nhưng ngôn ngữ của chúng ta để mô tả nó luôn mang tính ngẫu nhiên.
- Một lịch sử về Quỷ học nhất thiết phải là một lịch sử của thế giới.
Pandemonium phần lớn là sự chú giải (exegesis) các nguyên tắc này, mặc dù phần lớn chúng xuất hiện thông qua quá trình viết cuốn sách. Như một tập hợp các tiên đề, hoặc lập luận, hoặc luận đề, chúng không nhất thiết phải hiển nhiên, đó tất nhiên là một phần lý do tại sao tôi đã hệ thống hóa chúng. Có một ý nghĩa mà trong đó các chương của Pandemonium đã được tổ chức theo lược đồ này, chẳng hạn như phân tích một con quỷ nhất định đại diện cho tinh thần thời đại (zeitgeist) của một kỷ nguyên, sự tập trung vào việc đọc kỹ các tác phẩm văn học, và sự nhấn mạnh vào tính biến thiên trong ý nghĩa biểu tượng của từng con quỷ, như sự tiến hóa của Lucifer từ hiện thân của cái ác và sự nổi loạn sang việc được hiểu là một người hùng Lãng mạn. Nó được coi là một dữ kiện thúc đẩy rằng có một cái gì đó vô hình, một cái thiêng liêng bất khả ngôn mà ngôn ngữ không đủ để diễn tả, vì vậy diễn ngôn của chúng ta phải luôn được kiến tạo (mặc dù không vì thế mà kém phần quan trọng).
Đúng như phụ đề của nó, Pandemonium là một lịch sử của môn Quỷ học hơn là về các cá thể quỷ. Chắc chắn, tất cả những gì bạn mong đợi đều có ở đó xét về các cấp bậc của quỷ, những cuốn cổ thư ma thuật (grimoires) cổ xưa với những câu thần chú của chúng, và những pháp sư đã nổi danh nhờ làm việc trong các nghệ thuật huyền bí. Có sự cân nhắc đầy đủ dành cho các thực thể thuộc thế giới khác với những cái tên như Ba’al và Mammon, nhưng hơn cả một danh sách bách khoa về những sinh vật như vậy (vì đã có những tập sách khác làm việc đó), cuốn sách này là lịch sử phổ thông toàn diện đầu tiên về Quỷ học như một bộ môn nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là trọng tâm nằm ở cách con người — từ Cornelius Agrippa đến John Dee, Aleister Crowley đến Anton LaVey — đã hình dung về ma quỷ, và những tác phẩm mà họ tạo ra từ đó.
Hơn nữa, Pandemonium không giới hạn bản thân trong các nhân vật thường được phân loại là nhà huyền bí học, vì tôi cũng cung cấp một phân tích về cách cái ác (the demonic) ảnh hưởng đến công việc của các triết gia chính thống như René Descartes, Friedrich Nietzsche và Hannah Arendt (cùng những người khác). Truyền thống Hermes (Hermetic tradition), thường bị gạt ra bên lề bởi giới học thuật chính thống, đã gây ra ảnh hưởng lớn hơn so với những gì được giả định, và ánh hào quang lấp lánh của ma quỷ có thể được nhìn thấy trong các tác phẩm kinh điển nhiều hơn là được ghi nhận.
Mặc dù tôi (về mặt kỹ thuật) là một học giả, Pandemonium không phải là một tập sách học thuật truyền thống, mặc dù nó mang tính diễn giải và phê bình, và tôi chắc chắn đã dựa vào nghiên cứu vô giá của các sử gia, nhà thần học, triết gia và nhà lý luận văn học. Tôi không tuyên bố cuốn sách là một nghiên cứu toàn diện, mặc dù nó có phạm vi rộng. Chắc chắn Pandemonium phản ánh những thiên kiến, mối quan tâm, điểm mù và định kiến của tôi, vì vậy tôi cầu xin một sự bao dung và thấu hiểu nhất định từ độc giả. Quan trọng hơn bất kỳ phân tích cá nhân nào, bất kỳ bài đọc kỹ lưỡng cụ thể nào, bất kỳ sự kể lại nào về một nhân vật, sự kiện hoặc văn bản cụ thể, điều cốt yếu nhất là lập luận cơ bản của Pandemonium — rằng bởi vì Satan là “Hoàng tử của thế gian này”, bất kỳ lịch sử nào về Quỷ học, theo thực tế (de facto), cũng là một lịch sử của thế giới.
Thi pháp Quỷ học luôn là một sự biểu đạt của cái bất khả ngôn, nơi ngôn từ của chúng ta luôn biến đổi, để ma quỷ cung cấp những ẩn dụ giàu trí tưởng tượng vô giá cho mỗi thời đại để hiểu bản thân nó một cách độc đáo trong mối quan hệ không chỉ với cái ác, mà còn với thực tại nói chung.
Một giai thoại cá nhân cuối cùng, mặc dù có lẽ nó giống một dụ ngôn hơn. Hơn một thập kỷ trước, khi tôi sống một thời gian ngắn tại đô thị công nghiệp nhem nhuốc Glasgow, tôi thường bắt tàu đến Edinburgh để dành cả ngày ở đó. Trong khi cả hai thành phố đều chia sẻ một nỗi u sầu Scotland nhất định, Edinburgh có bầu không khí Gothic hơn nhiều, một thị trấn với những con đường rải sỏi hẹp, ngoằn ngoèo leo lên sườn núi dốc đứng, một nơi trung cổ khép kín khoác lên mình lịch sử dày đặc như những đám mây đen di chuyển qua vùng đất thấp Midlothian. Đúng với thái độ chung của nó, Edinburgh có một số tour du lịch săn ma mà bạn thấy ở bất kỳ thành phố nào có lịch sử lâu đời, đẫm máu, hoặc tốt nhất là cả hai. Đây là những chuyến đi qua các khu bến cảng ven biển u ám và những trang viên cũ kỹ lộng gió, nơi những sinh viên kịch nghệ túng thiếu mặc trang phục cổ trang và nói chuyện bằng giọng điệu cổ xưa đầy vẻ kịch tính. Không khá hơn bất kỳ ai khác chọn chi vài bảng Anh cho nỗ lực đó, tôi đã mạo hiểm tham gia vào sự thể hiện của Edinburgh về truyền thống đáng kính và sến sẩm đó.
Chuyến tham quan cụ thể mà tôi đã đi là qua Hầm cầu South Bridge (South Bridge Vaults), một mạng lưới các phòng ngầm dạng tổ ong có thể tiếp cận từ mặt đường qua một số cánh cửa khóa chặt, nơi vào thế kỷ 18 từng chứa một lượng lớn dân cư nghèo khổ bị di dời bởi quá trình phục hưng kiến trúc Georgia của khu vực bên kia thung lũng từ Khu phố cổ ban đầu của Edinburgh. Bên trong cõi âm ty (chthonic realm) của những kẻ bị lãng quên này là một cộng đồng của những người bần cùng và tội phạm, cả một vương quốc ẩn giấu dưới bước chân của một Edinburgh đáng kính đang băng qua Cầu Nam.
Các quán rượu, lò nấu rượu, khu ổ chuột và nhà thổ đều nằm dọc theo các hầm; từ lâu đã có truyền thuyết rằng những kẻ giết người hàng loạt khét tiếng William Burke và William Hare, những kẻ cung cấp xác chết mới cho sinh viên giải phẫu tại Đại học Edinburgh, sẽ bắt đầu cuộc săn lùng của họ trong khu vực này. Đây là khu vực dành cho những kẻ lưu manh, những kẻ phóng đãng, những tay chơi và những kẻ lừa đảo, một nơi bất hạnh và bị nguyền rủa. Bị bịt kín và lãng quên trong hai thế kỷ, các hầm ngầm đã được tình cờ phát hiện lại bởi một ngôi sao bóng bầu dục Scotland vào những năm 1980, và khá dễ đoán, chúng đã trở thành một điểm đến nổi bật cho những du khách đeo túi bao tử của thành phố.
Khi tôi đi tham quan vào một nước Scotland ẩm ướt và lạnh lẽo năm 2007, Hầm Edinburgh đã thực hiện đúng lời hứa cung cấp một trải nghiệm rùng rợn thích hợp. Tất cả đều được cấu thành từ những viên gạch màu nâu vàng vỡ vụn, xếp chặt vào nhau, khiến mỗi hầm ngầm có vẻ ngoài của một cái lò nướng lớn. Một hướng dẫn viên nhiệt tình dẫn chúng tôi qua mạng lưới các phòng ngột ngạt, con đường của chúng tôi được chiếu sáng bởi những bóng đèn điện trong lồng sắt trông như thể chúng được thắp bằng khí ga. Chúng tôi được người dẫn đường (một lần nữa, đoán xem, là một sinh viên kịch nghệ) giải trí bằng sự kết hợp của các tư liệu lịch sử, những câu chuyện kỳ quái, và đương nhiên, các báo cáo về các hiện tượng siêu nhiên.
Một căn phòng, giống hệt tất cả các phòng còn lại, từng là nơi xảy ra một trận hỏa hoạn lớn vào thế kỷ 18 khiến hàng trăm người bị nướng chín theo nghĩa đen, khiến chính quyền thành phố không thể phân biệt đâu là bộ phận cơ thể của người này và đâu là của người kia, cả đám người bị biến thành một khối thịt cháy xém, run rẩy. Ở một phòng khác, chúng tôi được kể về cách Burke và Hare bắt cóc phụ nữ và đàn ông, đâm họ, bó họ lại, rồi giao họ cho trường y, nơi họ sẽ bị mổ xẻ cho mục đích giáo dục. Và cuối cùng, là căn phòng đáng sợ nhất.
Vốn dĩ không có gì nổi bật, và được cho là không có tầm quan trọng lịch sử, hầm cụ thể này đã được chọn làm nơi cho các buổi thờ phượng của một nhóm tân giáo (neo-pagan). Bàn thờ và ghế được dựng lên, và các thành viên sẽ tụ tập mỗi tuần một lần giống như bất kỳ cộng đồng tôn giáo nào khác, nhưng họ gặp phải một vấn đề. Mỗi tuần, họ đều phát hiện ra rằng mặc dù hầm đã bị khóa, tất cả các vật dụng nghi lễ của họ đều bị vứt rải rác, ghế bị lật đổ, các trang sách bị xé toạc.
Cuối cùng, người lãnh đạo của cộng đồng này, một tu sĩ Druid có chút kiến thức về những sự ám ảnh cổ xưa hoành hành vùng đất này, đã tình nguyện qua đêm để xem thế lực nào, dù là con người hay hồn ma, đã phá hoại thánh địa của họ. Hướng dẫn viên của chúng tôi, với vẻ điệu đà sân khấu, báo cáo rằng vào buổi sáng, vị tu sĩ run rẩy, một người quen thuộc với những đòi hỏi của thế giới siêu nhiên, đã từ chối đưa ra chi tiết về những gì ông ta chứng kiến trong đêm, nhưng ông ta yêu cầu nơi thờ phượng của nhóm phải được chuyển ra khỏi hầm đó ngay lập tức.
Như một lễ vật cuối cùng, ông ta tập hợp một số tảng đá và sắp xếp chúng thành một vòng tròn với đường kính khoảng chiều cao của một người đàn ông lực lưỡng, thực hiện một nghi lễ để giam cầm vĩnh viễn thứ đã ám ảnh hầm ngầm vào trong gò đá (cairn) đó. Bất kể điều gì đã xảy ra với vị tu sĩ đêm đó, bất kể ông ta đã trải nghiệm điều gì, ông ta đã rất cẩn thận để đảm bảo rằng thế lực mạnh mẽ này, cái ác tuyệt đối này, sẽ bị kiềm chế bởi phép thuật này, bị vô hiệu hóa kẻo ai đó phá vỡ nhà tù của nó.
Hướng dẫn viên của chúng tôi rất giỏi. Cô ấy đã thực hiện một màn trình diễn phô trương bên ngoài vòng tròn, nhấn mạnh rằng mặc dù cô ấy quá thận trọng để không bao giờ bước qua ranh giới của nó, nhưng Vương quốc Anh là một đất nước tự do, và chắc chắn bất kỳ ai trong đoàn tham quan đều được chào đón bước vào lãnh địa của linh hồn được cho là đang ở đó nếu họ quyết định như vậy. Trong chuyến tham quan của chúng tôi có một thanh niên trẻ không quá mười chín hoặc hai mươi tuổi, người theo đuổi phong cách của văn hóa nhóm “chav” (trẻ trâu) của Anh có phần tai tiếng. Hãy tưởng tượng chiếc áo khoác Burberry quá khổ, mũ lưỡi trai đội ngược, dây chuyền vàng và giày thể thao đắt tiền. Cậu ta đi cùng hai cô gái xinh đẹp, và có lẽ để tỏ ra không sợ hãi, cậu ta nhảy vào giữa gò đá, bắt chước vài cử chỉ tục tĩu, cười lớn và tặng cho khán giả một dấu hiệu chữ V (chửi thề) thô tục khi kết thúc.
Sau màn trình diễn của cậu ta, nhóm tiếp tục lên đường, nhưng có điều gì đó không ổn với chàng trai trẻ quý tộc này. Nơi cậu ta từng ồn ào, giờ cậu ta im lặng; nơi trước đây cậu ta thô tục, giờ cậu ta có vẻ sợ sệt; nơi cậu ta từng khoác lác, giờ cậu ta là một cậu bé sợ hãi. Sau khoảng nửa giờ trôi qua, nhà thám hiểm không sợ hãi của chúng tôi vào bất cứ vực thẳm nào trong vòng tròn đó bắt đầu khóc, suy sụp trước mặt những người phụ nữ mà cậu ta từng hy vọng sẽ đưa về nhà, và cậu ta gần như không nói nên lời khi được hướng dẫn viên hỏi có chuyện gì. Cả nhóm phải dừng lại khi xe cứu thương được gọi đến, và một nhân viên bảo vệ đến để đưa chàng trai trẻ lên mặt đường.
Chà, tôi không biết chuyện gì đã xảy ra ở đó. Có lẽ, bất chấp tất cả vẻ nghênh ngang ban đầu, cậu ta thuộc loại người mắc bệnh tâm lý, dễ bị tác động và dễ lo lắng. Hoặc, có thể cậu ta là một diễn viên được nhóm du lịch thuê để tạo thêm chút tính chân thực rùng rợn cho các diễn biến. Cuối cùng, có thể cậu ta đã gặp bất cứ thứ gì tồn tại trong vương quốc vô tận của những điều không thể đó; có lẽ cậu ta đã đi sâu vào vực thẳm đó và bước ra ở phía bên kia với sự thay đổi, khác biệt.
Nếu cái ác (the demonic) là một thứ gì đó tồn tại ở cốt lõi của cái vô hình, một vùng đất vượt ra ngoài ngôn từ hay sự mô tả, ngôn ngữ hay tầm nhìn bình thường, thì Quỷ học luôn cung cấp một phương tiện an toàn hơn để tiếp cận cõi đó. Quỷ học được xây dựng bằng những viên đá giam giữ thế lực đó bên trong, mỗi viên sỏi là một cái tên mà con người đã chọn để cố gắng và hiểu được một thứ về cơ bản là vô nghĩa. Tất cả các bạn đang đọc bây giờ đều đang đứng ở phía bên ngoài của những tảng đá đó, nhìn vào sự phủ định thuần túy được chứa đựng bởi gò đá đó. Hãy coi đó là một lời khuyên khôn ngoan rằng tốt nhất là không bao giờ bước qua ngưỡng cửa đó.
Liệu ma quỷ có thật không? Tôi sẽ không bước vào vòng tròn đó đâu. Còn bạn thì sao?
- Điều này đúng trong rất nhiều trường hợp. Như trừ tà hay triệu hồi Quỷ ma, đều cần gọi đúng tên, như một “mật mã” để kiểm soát được chúng. ↩︎
- Tôi có thể ghi chú thêm cho ý kiến của tôi rằng: Tôi đã từng xem tôn giáo nói chung, hay quỷ học nói riêng, đều mang tính nghệ thuật, con người cần nghệ thuật để thỏa mãn và tự an ủi chính mình. Vì nghệ thuật thường sẽ khiến cảm xúc của chúng ta có chút gợn sóng giữa cuộc đời. ↩︎
