I. Nội dung
MỤC 2: Thiên thần có phức hợp bởi chất thể và mô thể1 chăng?
NGHI VẤN. Hình như thiên thần thì phức hợp bởi chất thể và mô thể.
- Vì phàm chi được gồm thâu trong một giống nào đó thì là phức hợp bởi giống và một dị điểm2 thêm vào để thành nên một loại. Nhưng theo nhà Hiền triết (VIII Metaphys.), giống thì được lấy bởi chất thể, còn dị điểm thì bởi mô thể. Cho nên, phàm chi thuộc về giống thì phức hợp bởi chất thể và mô thể, nhưng thiên thần thuộc về giống bản thể. Cho nên thiên thần thì phức hợp bởi chất thể và mô thể.
- Vả lại, ở đâu có những đặc trưng của chất thể thì ở đó có chính chất thể. Mà những đặc trưng của chất thể là lãnh nhận và đứng trụ, vì thế trong sách De Trin., Boetius viết: mô thể đơn thuần không thể là chủ thể. Nhưng những đặc trưng này có nơi thiên thần. Cho nên thiên thần thì phức hợp bởi chất thể và mô thể.
- Vả lại, mô thể là hiện thể. Mà điều gì chỉ là mô thể mà thôi thì là hiện thể thuần tuý3. Nhưng thiên thần không phải là hiện thể thuần tuý: vì điều đó chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa. Cho nên thiên thần không phải là mô thể mà thôi, nhưng có mô thể và chất thể.
- Vả lại, nói đúng ra mô thể thì bị hạn chế và hạn định bởi chất thể. Cho nên mô thể không ở trong chất thể là mô thể vô cùng vô tận. Nhưng mô thể của thiên thần không phải là mô thể vô cùng vô tận: vì mọi vật thụ tạo đều là có cùng. Cho nên mô thể của thiên thần thì ở trong một chất thể.
NHƯNG. Trong sách De Div. Nom., cap.4, Dionysius viết: những vật thụ tạo đầu tiên vì là vô hình, nên được coi là vô chất.
LUẬN GIẢI. Một số tác giả chủ trương rằng các thiên thần kép bởi chất thể và mô thể. Và trong sách Fontis vitae, Avicebron4 cố gắng thuyết minh cho ý kiến này. Thực vậy, ông cho rằng: những chi được trí khôn phân tách ra, thì nơi vạn vật chúng cũng phân biệt nhau. Nhưng nơi bản thể vô hình, trí khôn nhận ra điều làm cho nó phân biệt và điều làm cho nó phù hợp với bản thể hữu hình. Do đó ông muốn kết luận rằng: điều làm cho bản thể vô hình khác biệt với bản thể hữu hình là như mô thể của nó, và điều như yếu tố chung, đứng trụ cho mô thể khác biệt kia là chất thể của nó. Vì thế ông công nhận cũng một chất thể phổ quát đồng nhất của các vật thiêng liêng và hữu hình: điều đó phải hiểu thế này, mô thể của bản thể vô hình cũng được phú vào chất thể của các vật thiêng liêng, như mô thể của lượng được phú vào chất thể của các vật hữu hình.
Nhưng thoạt coi đã thấy rõ, không thể có một chất thể đồng nhất cho các vật thiêng liêng và các vật hữu hình. Thực vậy, mô thể thiêng liêng và mô thể hữu hình không thể được đón nhận vào cũng một phần của chất thể: vì như thế một vật duy nhất vừa là hữu hình vừa là thiêng liêng. Bởi vậy, chỉ còn cách là phần nọ của chất thể đón nhận mô thể hữu hình, và phần kia thì đón nhận mô thể thiêng liêng. Nhưng việc chất thể được phân chia thành từng phần chỉ thể hiện khi nó có lượng kèm theo: và hễ lượng đã bị cất đi thì bản thể trở thành bất khả phân, như thấy ở quyển I Phys.. Trong giả thuyết này, chất thể của các vật thiêng liêng sẽ là trụ đỡ cho lượng; đó là điều vô lý. Cho nên không thể có một và cũng một chất thể cho các vật hữu hình và các vật thiêng liêng.
Nhưng điều sau đây cũng không thể có, ấy là bản thể trí thức có bất cứ chất thể nào đó. Thực vậy, hoạt động của bất cứ vật nào cũng tuỳ theo cách thức bản thể của nó. Nhưng việc hiểu biết là hoạt động hoàn toàn vô chất5. Đối tượng của nó chứng minh điều đó, vì do đối tượng mà mọi hành vi được loại định và có lý tính: thực vậy, sở dĩ một vật được lý hội là vì đã được trừu xuất khỏi vật chất6; các mô thể ở trong chất thể là những mô thể cá biệt, và như cá biệt thì trí khôn không nhận biết được. Cho nên mọi bản thể tri thức thì hoàn toàn vô chất.
Song không nhất thiết là những điều được trí khôn phân biệt thì cũng đã thực sự phân biệt. Bởi vì trí tuệ không thâu nhận các vật theo cách thức của các vật, nhưng theo cách thức của trí khôn. Vì thế những vật hữu chất, thấp kém hơn trí khôn chúng ta, được nhận vào trí khôn của chúng ta một cách đơn giản hơn khi chúng trụ tại chính chúng. Nhưng những bản thể các thiên thần thì vượt trên trí khôn chúng ta. Cho nên, trí khôn chúng ta không có thể thâu nhận các ngài như có tại thân; nhưng theo cách thức của trí khôn khi nhận biết những vật phức hợp. Và chúng ta cũng hiểu biết Thiên Chúa như thế, như đã nói trên (vđ.3, m.3, gđ.1).
GIẢI ĐÁP.
- Chính dị điểm cấu thành loại. Mỗi vật được thiết lập trong một loại, theo như nó được quy định vào một cấp bậc riêng trong các hữu thể: vì loại của các vật thì giống như những con số: chúng khác nhau do sự thêm bớt một đơn vị, như nhà Hiền triết viết ở trong quyển VIII Metaphys.. Nhưng nơi các vật hữu chất, điều quy định vào một cấp bậc riêng, tức mô thể, thì khác, và điều được quy định, tức là chất thể, thì lại khác. Cho nên giống thì do một điều, mà dị điểm lại do một điều khác. Nhưng nơi các vật vô chất, điều quy định và điều được quy định thì không khác nhau: vì trong các vật ấy mỗi vật tự mình đã có một cấp bậc nhất định trong các hữu thể. Và vì thế giống và dị điểm nơi các vật này không do điều này và điều kia, mà do cũng một điều duy nhất. Tuy nhiên, nó khác nhau theo sự suy tư của chúng ta: nếu trí khôn ta suy cứu vật ấy cách bất định thì nó có lý tính của giống, còn nếu suy cứu nó cách hạn định thì nó có lý tính của dị điểm.
- Lý do đó cũng chính là lý lẽ ta thấy trong sách Fontis vitae. Đó sẽ là lý lẽ thiết yếu nếu cách thức mà trí tuệ tiếp nhận cũng đồng nhất với cách thức mà chất thể tiếp nhận. Nhưng đó là điều sai lầm. Thực vậy, chất thể tiếp nhận mô thể để nhờ mô thể mà được thiết lập thành hữu thể của một loại nào đó, như không khí, lửa hay bất kỳ vật nào khác. Nhưng trí tuệ không tiếp nhận mô thể như thế: chẳng vậy sẽ đúng như ý kiến của Empedocles7, ông chủ trương rằng: ta biết đất nhờ đất, biết lửa nhờ lửa. Nhưng mô thể khả tri ở trong trí tuệ của ta theo chính lý tính của mô thể: và như thế được nhận biết bởi trí khôn. Vì thế cách tiếp nhận như vậy không phải là sự tiếp nhận của chất thể, mà là sự tiếp nhận của bản thể vô chất.
- Dù nơi thiên thần không có sự phức hợp của mô thể và chất thể, nhưng có hiện thể và tiềm thể. Cứ suy xét những vật hữu chất ta sẽ thấy rõ điều đó, nơi các vật này có hai thứ phức hợp. Một là sự phức hợp của mô thể và chất thể, nhờ đó mà một bản tính nào đó được cấu thành. Nhưng bản tính được cấu thành như thế không phải là hiện hữu của nó; hiện hữu là hiện thể của nó. Vì thế so sánh với hiện hữu thì chính bản tính như là tiềm thể với hiện thể. Cho nên một khi chất thể bị cất bỏ, và giả dụ mô thể không tồn tại trong chất thể, thì mô thể so sánh với chính hiện hữu vẫn còn như tiềm thể với hiện thể. Phải hiểu sự phức hợp nơi các thiên thần như thế. Đây là chủ trương của một số người cho rằng: thiên thần thì phức hợp bởi điều nhờ đó và bởi chủ thể hiện hữu, hoặc bởi hiện hữu và chủ thể hiện hữu8, như Boetius nói: vì chủ thể hiện hữu là chính mô thể lập hữu; nhưng chính hiện hữu là điều nhờ đó mà bản thể hiện hữu, như sự chạy là điều nhờ đó người đang chạy chạy. Nhưng nơi Thiên Chúa hiện hữu không khác với chủ thể hiện hữu, như đã chứng tỏ ở trên (vđ.3, m.4). Cho nên chỉ một mình Thiên Chúa là hiện thể thuần tuý.
- Nói cách tuyệt đối, mọi vật thụ tạo đều là hữu hạn, vì hiện hữu của chúng không phải là lập hữu tuyệt đối, nhưng bị giới hạn theo bản tính chúng mang theo. Tuy nhiên không có chi cản trở để một vật thụ tạo là vô hạn theo khía cạnh nào đó. Các vật thụ tạo hữu chất thì vô hạn về phía chất thể, nhưng hữu hạn về phía mô thể, vì bị giới hạn do chất thể trong đó nó được tiếp nhận. Nhưng các bản thể thụ tạo vô chất thì hữu hạn theo hiện hữu của chúng, nhưng vô hạn xét như mô thể của chúng không được đón nhận trong chủ thể khác. Cũng như khi chúng ta nói có màu trắng tách rời, thì màu trắng sẽ là vô hạn theo lý tính của màu trắng, vì nó không bị thu hẹp vào một chủ thể nào; nhưng hữu thể của nó thì hữu hạn, vì nó được hạn định vào một bản tính riêng. Vì thế, trong sách De Causis9 có nói: sự hiểu biết thì hữu hạn về phía trên, nghĩa là nó nhận được hiện hữu từ nguyên khởi cao trọng hơn nó; nhưng vô hạn về phía dưới, vì nó không bị thâu nhận trong một chất thể nào cả.
II. Diễn giải
Câu hỏi chính mà Thánh Thomas đặt ra trên bàn luận định là: “Liệu thiên thần có được cấu tạo từ chất thể và mô thể hay không?” Đây hoàn toàn không phải là một cuộc tranh luận hàn lâm viển vông về từ ngữ.
Vấn đề này chạm đến cốt lõi của siêu hình học thụ tạo. Nếu thiên thần có chứa vật chất (dù là dạng vật chất tinh vi nhất), các ngài sẽ bị giới hạn bởi không gian, thời gian và sự hoại diệt như mọi vạn vật hữu hình khác.
Ngược lại, nếu xác quyết rằng các ngài hoàn toàn phi vật chất, chúng ta phải đối mặt với một rủi ro thần học lớn hơn. Đó là việc phải giải thích làm thế nào thiên thần lại khác biệt với Thiên Chúa, Đấng vốn được định nghĩa là sự đơn thuần và tinh tuyền tuyệt đối.
Để trả lời, Thánh Thomas mượn lại nền tảng nhận thức luận của Aristotle nhưng nâng nó lên một tầm cao mới. Ngài khẳng định một cách dứt khoát: Thiên thần là những mô thể thuần túy (forma separata) và hoàn toàn không có bất kỳ sự pha trộn nào của vật chất.
Chúng ta cần hiểu rõ hai khái niệm xương sống này. Materia (Chất thể) là nguyên lý của sự giới hạn, là “nguyên liệu” vô định, tạo ra sự cá biệt hóa của sự vật trong không gian. Trong khi đó, Forma (Mô thể) là nguyên lý mang lại hình dáng, bản tính và sự hoàn thiện cho hữu thể đó.
Aquinas lập luận dựa trên hành động nhận thức. Đặc tính cơ bản của một trí năng là khả năng nắm bắt các chân lý phổ quát và trừu tượng. Nếu một bản tính bị trói buộc vào chất thể, khả năng nhận thức của nó sẽ bị kéo ghì xuống và giới hạn trong những vật thể cá biệt, giống như con mắt nhục thể chỉ nhìn thấy một cái cây cụ thể chứ không thấu hiểu được “bản tính của loài cây”.
Do đó, để có được một trí năng hoàn hảo và thấu thị, bản tính của thiên thần phải vắng bóng hoàn toàn chất thể. Các ngài là những trí tuệ tồn tại độc lập mà không cần đến thân xác.
Hãy hình dung điều này qua ví dụ loại suy về chiếc ấn và sáp nến. Khi người thợ đóng ấn xuống sáp, hình ảnh con ấn (mô thể) bị giới hạn và đóng khung vào một khối sáp vật lý cụ thể (chất thể) nằm trên bàn.
Tuy nhiên, “ý niệm về con ấn” đang tồn tại trong tâm trí người nghệ nhân thì không bị giới hạn bởi bất kỳ khối sáp hay không gian vật lý nào. Bản tính thiên thần giống như ý niệm tinh tuyền đó, một mô thể hoàn toàn tách biệt khỏi vật chất, hoàn toàn tự do và mang tính trí năng tuyệt đối.
Khó khăn lớn nhất (Objections) mà Thánh Thomas phải đối mặt là lập luận của các triết gia đi trước, tiêu biểu là Avicebron. Họ bám vào luận điểm: Nếu thiên thần không có chất thể, các ngài sẽ đơn thuần tuyệt đối như Thiên Chúa.
Hơn nữa, vì thiên thần vẫn là thọ tạo, vẫn có khả năng thay đổi và tiếp nhận ân sủng, các ngài phải có một dạng “tiềm năng” (potentiality) nào đó. Theo lối mòn tư duy cũ, cứ có tính tiềm năng thì hữu thể đó phải chứa đựng thứ gọi là “chất thể thiêng liêng”.
Tại đây, Aquinas đã thực hiện một bước ngoặt rực rỡ trong Triết học Kinh viện. Ngài bẻ gãy vấn nạn bằng cách phân biệt rõ ràng giữa cấu trúc Mô thể/Chất thể và cấu trúc Hiện thể (Actus) / Tiềm thể (Potentia). Ngài khẳng định: Không phải cứ có tính tiềm năng là phải có vật chất.
Ở thiên thần, dù không hề có chất thể, vẫn tồn tại một sự kết hợp giới hạn giữa Bản tính (Essentia) và Sự hiện hữu (Esse). Bản tính của thiên thần là tiềm năng để nhận lấy sự hiện hữu từ Thiên Chúa.10
Chỉ duy nhất Thiên Chúa là Hiện thể Thuần túy (Actus Purus), nơi Bản tính của Ngài chính là Sự hiện hữu của Ngài. Còn thiên thần, dù có bản tính tinh thần cao trọng, “sự hiện hữu” của các ngài vẫn là một món quà được ban cho, chứ không tự nảy sinh từ bản tính của các ngài.
Bạn có thể liên tưởng đến ví dụ về bầu không khí và ánh sáng mặt trời. Không khí (đại diện cho bản tính thiên thần) tự nó trong suốt và không có kết cấu vật lý đặc kịt, nhưng nó không tự phát sáng. Nó mang tính tiềm năng và phải nhận lấy ánh sáng (sự hiện hữu) từ mặt trời (Thiên Chúa).
Qua việc bóc tách này, Thánh Thomas Aquinas đã bảo vệ được cấu trúc siêu hình học tuyệt đẹp của vũ trụ. Ngài chứng minh thiên thần là những trí năng phi vật chất vô cùng siêu việt, nhưng vĩnh viễn mang dấu ấn của thụ tạo bất toàn khi đứng trước ngai tòa Đấng Tạo Hóa vô biên.
III. Chú thích
- Chất thể và mô thể (Materia et Forma): Đây là thuyết Hylomorphism (Thuyết Chất-Mô) nền tảng của Aristoteles. Mọi vật thể vật lý đều được cấu tạo bởi hai nguyên lý: Chất thể (tiềm năng thuần túy, chưa có hình dạng) và Mô thể (hiện thể, cái làm cho vật chất trở thành một vật cụ thể, ví dụ: con chó, cái bàn). Cây thánh giá này hỏi: Liệu Thiên thần có được cấu tạo theo kiểu này không? ↩︎
- Giống và dị điểm (Genus et Differentia): Trong logic học, định nghĩa một sự vật dựa vào “Giống gần nhất” và “Dị điểm riêng biệt” (ví dụ: Con người = Động vật [Giống] + Có lý trí [Dị điểm]). Lý lẽ phản biện 1 cho rằng vì Thiên thần thuộc “giống” bản thể, nên phải có Chất thể đóng vai trò làm Giống, và Mô thể làm Dị điểm. ↩︎
- Hiện thể thuần túy (Actus Purus): Đây là khái niệm thần học tối thượng chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Thiên Chúa là Actus Purus – không có bất kỳ tiềm năng (potentia) nào chưa được thực hiện, Ngài là sự Hoàn hảo tuyệt đối. Phản biện 3 cho rằng: Chất thể là tiềm thể, Mô thể là hiện thể. Nếu Thiên thần KHÔNG có chất thể (tức là chỉ có mô thể), thì Thiên thần biến thành Hiện thể thuần túy (hóa thành Thiên Chúa mất rồi!). Đây là nghi vấn mạnh nhất mà Aquinas phải giải quyết. ↩︎
- Avicebron và tác phẩm Fontis vitae (Fons Vitae – Suối Nguồn Sự Sống): Avicebron (Solomon ibn Gabirol) là một triết gia Do Thái thế kỷ 11. Ông đề xướng thuyết Universal Hylomorphism (Hữu chất phổ quát) – cho rằng MỌI thụ tạo (kể cả thiên thần và linh hồn) đều phải có chất thể. Nếu không có chất thể, chúng sẽ không thể phân biệt với Thiên Chúa. Aquinas kiên quyết bác bỏ điều này, cho rằng đây là một sự nhầm lẫn giữa trật tự tư duy (logic) và trật tự thực tại (hữu thể học). ↩︎
- Hoạt động hiểu biết hoàn toàn vô chất (Immateriality of Intellection): Aquinas tiếp tục dựa vào nhận thức luận: Hành động “hiểu” một cái gì đó không phải là hành động vật lý. Khi tôi hiểu “hình tam giác”, tôi không nhét một cái hình tam giác bằng gỗ vào trong não mình. Tôi nắm bắt ý niệm phổ quát của nó. Nếu hoạt động nhận thức (intellection) là phi vật chất, thì chủ thể thực hiện nó (Trí năng/Thiên thần) bắt buộc cũng phải phi vật chất hoàn toàn. ↩︎
- Trừu xuất khỏi vật chất (Abstractio a materia): Vật chất chính là Nguyên lý cá biệt hóa (Principle of Individuation). Cái làm cho “con chó này” khác với “con chó kia” chính là vật chất tạo nên chúng, dù chúng chung một mô thể (loài chó). Để trí năng nhận biết được sự vật, trí năng phải lột bỏ (trừu xuất) các đặc tính vật chất cá biệt đó để nắm lấy bản chất phổ quát. ↩︎
- Empedocles: Một triết gia Tiền-Socrates. Ông có thuyết nhận thức hết sức thô sơ: “Like is known by like” (Vật gì thì nhận biết bằng chất ấy – mắt có lửa nên thấy lửa, có đất nên thấy đất). Aquinas mượn Empedocles để giễu cợt lập luận của Avicebron: Việc Thiên thần tiếp nhận tri thức không giống kiểu cái xô (chất thể) chứa nước (mô thể), mà là một sự tiếp nhận hoàn toàn thiêng liêng (formal/intentional reception). ↩︎
- Phức hợp bởi hiện hữu (Esse) và chủ thể hiện hữu (Essentia / Quod est): Đây là trái tim của câu trả lời. Aquinas giải thoát triết học khỏi bế tắc của Avicebron. Thiên thần KHÔNG ghép bởi Chất thể và Mô thể. Thiên thần là một Mô thể thuần túy (Pure Form). NHƯNG ngài vẫn là thụ tạo, ngài không phải là Thiên Chúa, vì ngài bị phức hợp ở một cấp độ cao hơn: Sự phức hợp giữa Bản tính (Essentia – cái ngài là) và Hiện hữu (Esse – hành vi tồn tại do Chúa ban). Nơi Thiên thần, Bản tính đóng vai trò là tiềm thể (như một cái bình chứa), và Hiện hữu đóng vai trò là hiện thể (nước được rót vào). Chỉ một mình Thiên Chúa mới có Bản tính đồng nhất với Hiện hữu (Ngài LÀ sự Tồn Tại). ↩︎
- Sách De Causis (Liber de Causis – Sách Về Các Nguyên Nhân): Một tác phẩm triết học Tân-Plato rất nổi tiếng trong thời Trung cổ. Aquinas trích dẫn nguyên lý tuyệt đẹp của nó để chốt lại: Thiên thần là “Vô hạn ở phía dưới” (vì mô thể của ngài không bị giam cầm trong bất kỳ vật chất nào), nhưng “Hữu hạn ở phía trên” (vì sự tồn tại của ngài vẫn phải được lãnh nhận từ Thiên Chúa). ↩︎
- Cũng từ đây chúng ta có thể hiểu rằng Quỷ ma sau khi sa ngã, mất đi ân sủng từ Thiên Chúa, thì không thể xuất hiện trong hình hài mà Thiên Chúa muốn, bọn chúng chỉ còn sự vô hình bản năng của chúng. Do vậy, chúng ta không thể nhìn thấy Quỷ ma rõ ràng như Đức Maria nhìn thấy Thiên sứ Gabriel đến báo tin. Quỷ ma chúng ta tưởng tượng ra như quái thú, thì là do chúng ta tưởng tượng ra. ↩︎
