Các Thiên Thần có thẩn thể tự nhiên phối hợp với mình chăng?

by Pao Pevil

Câu hỏi trọng tâm mà Thánh Thomas đặt ra tại Mục 1, Vấn đề 51 là: Liệu các thiên thần có sở hữu một thân xác được kết hợp cách tự nhiên với bản tính của các ngài hay không? Thoạt nhìn, đây có vẻ là một truy vấn thuần túy viễn vông, nhưng thực chất nó là viên gạch nền tảng để định vị chỗ đứng của các thụ tạo tâm linh trong trật tự vũ trụ.

Vào thời Trung Cổ, Thánh Thomas phải đối mặt với nhiều luồng tư tưởng phức tạp, điển hình như quan điểm của Origen cho rằng chỉ duy nhất Thiên Chúa mới hoàn toàn vô hình vô tướng. Lập luận đó kéo theo hệ quả là mọi thụ tạo khác – kể cả thiên thần – đều phải có một dạng thân xác nào đó, dù là loại vật chất tinh vi hay thanh khiết nhất.

Nếu chúng ta thừa nhận thiên thần có thân xác cấu thành nên bản tính, chúng ta sẽ phá vỡ toàn bộ thang bậc hiện hữu mà triết học Aristote đã vạch ra. Do đó, việc giải quyết triệt để vấn đề này giúp củng cố bản tính tinh tuyền của thế giới siêu nhiên, tách biệt hoàn toàn thiên thần khỏi những giới hạn đo lường được của không gian và thời gian.

Để đi vào phần cốt tủy trong câu trả lời của Thánh Thomas, chúng ta cần bám chặt vào nguyên lý nền tảng của triết học tự nhiên: Mọi sự kết hợp giữa chất thể (materia) và mô thể (forma) đều có tính mục đích, không bao giờ là sự dư thừa vô lý. Nếu một tinh thần được kết hợp với một thể xác một cách tự nhiên, thể xác đó bắt buộc phải đóng vai trò công cụ để phục vụ cho hoạt động đặc thù của tinh thần ấy.

Ở trường hợp con người, linh hồn chúng ta là một dạng trí năng (intellectus) nhưng lại khởi đầu ở trạng thái trống rỗng, mang tính tiềm năng (potentia). Chúng ta không bẩm sinh thấu triệt mọi chân lý, mà buộc phải thu thập dữ liệu từ thế giới bên ngoài thông qua ngũ quan. Do đó, linh hồn con người khao khát và cần một thân xác để trừu tượng hóa các hình ảnh vật lý thành những khái niệm phi vật lý.

Tuy nhiên, bản tính của thiên thần lại ở một bình diện hoàn toàn khác. Các ngài là những hữu thể tinh thần trọn vẹn, hoạt động nhận thức của các ngài không cần mượn đến bước trung gian của cơ quan cảm giác. Thiên thần trực tiếp chiêm ngắm và nắm bắt chân lý trong chính bản chất nội tại của chúng, nghĩa là trí năng của các ngài luôn ở trạng thái hiện thể (actus) đối với các sự vật được nhận thức.

Hãy hình dung sự khác biệt này qua một ví dụ loại suy cổ điển: sự đối lập giữa một người thợ mỏ và ánh sáng mặt trời. Trí năng con người giống như người thợ mỏ trong hang tối; anh ta cần những công cụ vật lý (tượng trưng cho đôi mắt, đôi tai) để từ từ đục đẽo và gom nhặt từng viên đá chân lý thô ráp. Ngược lại, trí năng thiên thần giống như ánh sáng mặt trời; nó chiếu soi và bao trùm lấy toàn bộ thực tại cùng một lúc mà không cần bất kỳ công cụ vật lý nào làm vật trung gian.

Vì thiên thần không cần đến “công cụ” vật lý cho hoạt động tối hậu của mình là “hiểu biết”, việc Tự nhiên gắn cho ngài một thân xác sẽ là một sự vi phạm nguyên tắc khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa. Tự nhiên không bao giờ sinh ra những cấu trúc vô ích. Từ bước lùi logic này, Thánh Thomas kết luận đanh thép: Thiên thần là những tinh thần thuần túy, hoàn toàn không có thân xác kết hợp tự nhiên.

Nhưng, Quỷ ma thì lại cần xác thân, nhưng không có được, vì: Quỷ ma đã sa ngã, xa rời hoàn toàn vinh quang của Thiên Chúa, bọn chúng chỉ có thể tồn tại “phía sau” vật chất, là “bóng tối”, bọn chúng rất cần xác thân để tự do, nhưng bản chất của bọn chúng phụ thuộc Thiên Chúa, nên bọn chúng muốn có mà không thể có.

Nhưng khi những loài mất đi ân sủng của Thiên Chúa, bọn chúng lại càng không có thân xác hoàn chỉnh để thực thi ý muốn của Thiên Chúa, do đó bọn chúng phải “chiếm đoạt” thân xác của con người, hoặc của loài vật khác để nỗi sợ hãi xâm chiếm các loài hữu thể, khiến chúng khiếp sợ bọn chúng nhiều hơn cả Thiên Chúa. Điều này sẽ giúp bọn sa ngã thỏa mãn sự Kiêu ngạo của chúng.

Khi đối diện với các vấn nạn từ những học giả đi trước, Thánh Thomas đã dùng chính lưỡi gươm phân tích của mình để tháo gỡ sự nhầm lẫn về mặt khái niệm. Một số người trích dẫn Kinh Thánh miêu tả thiên thần như những ngọn lửa hay làn gió, ngụ ý các ngài có một thân xác vi tế từ các nguyên tố tự nhiên này. Thánh nhân thẳng thắn phản bác rằng đó chỉ là ngôn ngữ ẩn dụ (metaphorical), mượn những vật chất rực rỡ và thanh thoát nhất để diễn tả năng lực thiêng liêng dồi dào, chứ không phải để định nghĩa bản thể của các ngài.

Đối với quan điểm e ngại rằng “nếu thiên thần vô hình, các ngài sẽ ngang hàng với Thiên Chúa”, Aquinas làm rõ một sự phân biệt siêu hình học vô cùng tinh tế. Thiên Chúa vô hình vì Ngài là Hiện thể Thuần túy (Actus Purus), nơi Hữu thể (Esse) và Bản chất (Essentia) hòa quyện làm một và không có bất kỳ giới hạn nào. Thiên thần tuy vô hình và phi vật chất (không có materia), nhưng bản tính của các ngài vẫn là thụ tạo, tức là vẫn bị giới hạn bởi chính bản chất thiên thần của mình, đánh dấu sự khác biệt vĩnh viễn giữa Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo.

Ý nghĩa thần học của bài phân tích này là một kiệt tác kiến trúc tư duy. Nó thiết lập một “Bức tranh Hữu thể” (Scala Naturae) hoàn mỹ không thể đứt gãy: trải dài từ thế giới vật chất thuần túy, lên đến con người (nơi giao thoa vĩ đại giữa thần trí và xác thịt), tiếp nối bằng các thiên thần (tinh thần thuần túy nhưng hữu hạn), và vươn tới đỉnh cao tuyệt đối là Thiên Chúa. Lập luận này nhắc nhở chúng ta một cách sâu sắc rằng, vương quốc của thực tại thực chất mênh mông và rực rỡ hơn rất nhiều so với những gì đôi mắt trần gian bị giới hạn bởi không gian và thời gian có thể nhìn thấy.

Nội dung

MỤC 1: Các thiên thần có thân thể tự nhiên phối hợp với mình chăng?

NGHI VẤN. Hình như các thiên thần có thân thể tự nhiên phối hợp với mình.

  1. Trong sách Peri Archon1, ông Origenes viết: Điều riêng biệt của một mình bản tính Thiên Chúa, nghĩa là của Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần, là hiện hữu mà không có bản thể hữu chất cũng không phối hợp với điều hữu hình nào cả. – Thánh Bernadus cũng nói trong bài giảng VI Super Cant. rằng: Như chúng ta quy gán cho một mình Thiên Chúa sự bất tử thì cũng quy gán cho một mình Người sự vô hình, vì bản tính của Người là bản tính duy nhất không vì mình cũng không vì ai mà cần đến sự trợ lực của dụng cụ hữu hình. Nhưng đã hiển nhiên là sự trợ lực ấy thì cần cho mọi linh tinh thụ tạo. – Trong sách Super Gen. ad litt. thánh Augustinô cũng nói: các ma quỷ được gọi là động vật khinh lâng, vì chúng có bản tính của “thể khí”2. Nhưng bản tính ma quỷ và của thiên thần thì như nhau. Cho nên các thiên thần có thân xác tự nhiên phối hợp với mình.
  2. Vả lại, trong bài giảng về Epiphaniae, thánh Gregorius gọi thiên thần là động vật trí thức. Nhưng mọi động vật đều phức hợp bởi thân thể và linh hồn. Cho nên các thiên thần có thân thể tự nhiên phối hợp với mình.
  3. Vả lại, sự sống nơi các thiên thần thì hoàn bị hơn nơi các linh hồn. Song linh hồn chẳng những sống mà còn làm cho thân thể được sống. Cho nên các thiên thần cũng làm cho thân thể tự nhiên phối hợp với mình được sống.

NHƯNG. Dionysius viết trong sách De Div. Nom. cap.4 rằng: Phải coi các thiên thần như những vật không có thân thể.

LUẬN GIẢI. Các thiên thần không có thân thể tự nhiên phối hợp với mình. Thực vậy, phàm chi là phụ thể của một bản tính thì ta không thấy có nơi bản tính ấy một cách phổ quát: thí dụ việc có cánh thì không thuộc về lý tính của động vật, nên không phù hợp với mọi động vật. Vậy bởi vì hiểu biết không phải là hành vi của thân thể, cũng không phải là hành vi của thể lực nào, như sẽ chứng minh dưới đây (vđ.75, m.2); nên có thân thể phối hợp thì không thuộc về lý tính của bản thể trí thức xét như tri thức, nhưng là điều ngẫu hợp với bản thể trí thức vì lý do ngoại tại; như xảy ra đối với linh hồn nhân loại, nếu nó được phối hợp với thân thể, vì linh hồn thì bất toàn, và là tiềm thể trong giống của các bản thể trí thức3, tự bản tính không có đầy đủ kiến thức, mà phải nhờ các giác quan thể xác để chinh phục kiến thức ấy từ các vật khả cảm4, như sẽ nói dưới đây (vđ.84, m.6; vđ.89, m.1). Nhưng hễ trong bất cứ giống nào có điều khiếm khuyết, thì trong giống đó cũng phải có điều hoàn bị5. Cho nên trong bản tính trí thức cũng có một số bản thể trí thức, không cần chinh phục kiến thức từ những vật khả cảm. Thành thử không phải mọi bản thể trí thức đều được phối hợp với thân thể, nhưng có một số tách rời khỏi thân thể. Và chúng ta gọi các bản thể này là thiên thần.

GIẢI ĐÁP.

  1. Như đã nói ở trên (vđ.50, m.1), một số học giả nghĩ rằng, mọi hữu thể đều là vật thể. Từ ý kiến đó hình như đã phát sinh ra ý kiến khác cho rằng, không có bản thể vô hình nào mà không phối hợp với thân thể; đến độ cũng có người chủ trương rằng, Thiên Chúa là linh hồn vũ trụ, như thánh Augustinô kể lại trong quyển VII De Civ. Dei. Song bởi vì điều này nghịch với đức tin công giáo, tuyên xưng Thiên Chúa trổi vượt trên hết mọi sự, theo lời Thánh vịnh 8,2: lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu; nên Origenes, dù không dám nói về Thiên Chúa như thế, nhưng đã áp dụng ý kiến đó về những vật khác; cũng như trong nhiều vấn đề ông đã sai lầm, vì đã theo ý kiến của các triết gia cổ thời. – Còn lời của thánh Bernardus thì có thể giải thích là: các linh tinh thụ tạo cần đến dụng cụ hữu hình không tự nhiên phối hợp, nhưng đã được nhận lấy để thực hiện việc gì đó, như sẽ nói sau (m.2). – Còn thánh Augustinô thì không xác quyết, nhưng lấy ý kiến của nhóm Platon6 chủ trương có một số động vật thể khí, mà họ gọi là ma quỷ.
  2. Thánh Gregorius gọi thiên thần là động vật suy lý theo nghĩa bóng, vì sự tương tự với lý trí.
  3. Làm cho sống theo lối tác nhân7 thì nguyên nó hàm súc sự hoàn bị. Cho nên cũng phù hợp với Thiên Chúa, như lời sách 1Sm 2,6: Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử. Nhưng làm cho sống theo lối mô thể thì thuộc về bản thể, là thành phần của một bản tính nào đó, và nguyên nó chưa phải là bản tính trọn vẹn của một loại. Cho nên, bản thể trí thức không phối hợp với thân thể thì hoàn bị hơn bản tính phối hợp với thân thể.

Chú thích

  1. Sách Peri Archon (De Principiis – Về Các Nguyên Lý) của Origenes: Origenes (khoảng 185–253) là một trong những thần học gia vĩ đại nhất của Giáo hội sơ khai nhưng tư tưởng của ông có nhiều điểm gây tranh cãi (như Aquinas nhận xét ở phần Giải đáp 1). Trong Peri Archon, Origenes chịu ảnh hưởng của triết học cổ đại khi cho rằng mọi thụ tạo thiêng liêng (thiên thần, linh hồn) ban đầu được tạo dựng bình đẳng, nhưng do sự sa ngã về mặt luân lý mà chúng bị “mặc lấy” những tầng vật chất (thân xác) từ thanh nhẹ đến nặng nề. Aquinas dứt khoát loại bỏ quan điểm này vì nó biến vật chất (thân xác) thành một hình phạt (punishment) thay vì một phần tốt đẹp của công trình sáng tạo. ↩︎
  2. Động vật khinh lâng / Bản tính thể khí (Animalia aerea / Aerial bodies): Đây là một tàn dư của triết học Tân-Plato (tiêu biểu là Apuleius). Các triết gia ngoại giáo cho rằng không gian được chia làm nhiều tầng: các vị thần ở tầng tinh tú (lửa/aether), con người ở mặt đất (đất/nước), và các “ma quỷ” (daimons – các tinh linh trung gian) sống ở tầng không khí, do đó chúng có thân xác làm bằng “thể khí”. Thánh Augustinô đôi khi nhắc lại thuyết này như một giả thuyết triết học chứ không biến nó thành tín điều. ↩︎
  3. Tiềm thể trong giống của các bản thể trí thức (Potentia in genere intellectualium substantiarum): Đây là cốt lõi trong thang bậc hữu thể (Hierarchy of Being) của Aquinas. Trí năng của con người là bậc thấp nhất trong thế giới các bản thể thiêng liêng. Nó giống như một tấm bảng sạch (tabula rasa), hoàn toàn nằm trong “tiềm thể” (chưa biết gì cả) khi mới sinh ra. Nó cần thân xác để làm công cụ thu thập dữ liệu. ↩︎
  4. Chinh phục kiến thức từ các vật khả cảm (Accipere cognitionem a sensibilibus): Aquinas áp dụng nguyên lý tri thức luận của Aristoteles: “Không có gì trong trí năng mà trước đó không đi qua giác quan” (Nihil est in intellectu quod non sit prius in sensu). Vì trí tuệ con người quá yếu ớt, nó phải mượn đôi mắt, đôi tai vật lý để nhìn và nghe, từ đó trừu xuất (abstract) ra các khái niệm. Thân xác, đối với con người, không phải là một “nhà tù” như Plato nghĩ, mà là sự trợ lực tất yếu cho một trí năng cấp thấp. ↩︎
  5. Quy luật về sự Hoàn bị (Lex perfectionis): Một nguyên lý suy luận tuyệt đẹp của Triết học Kinh viện. Nếu trong một chủng loại (giống bản thể trí thức) có một thành viên mang tính “khiếm khuyết/tiềm năng” (linh hồn con người, vì cần phải đi đường vòng qua giác quan để học hỏi), thì để vũ trụ được hoàn hảo, bắt buộc phải tồn tại những thành viên đạt mức “hoàn bị/hiện thể” trong cùng giống đó. Đó chính là Thiên thần – những trí tuệ sắc bén nhận biết chân lý trực tiếp thông qua các ý niệm bẩm sinh (infused species) mà không cần mắt nhìn hay tai nghe. Do đó, thiên thần tự bản tính không cần thân xác. ↩︎
  6. Nhóm Platon (Platonici): Aquinas thường dùng từ này để chỉ các triết gia Tân-Plato. Việc Aquinas bênh vực Thánh Augustinô (bằng cách nói ngài “không xác quyết, nhưng lấy ý kiến của nhóm Platon”) cho thấy sự tôn trọng tuyệt đối của ngài đối với vị Đại Tiến sĩ này. Khi Augustinô có quan điểm dường như đi ngược lại với hệ thống hệ Aristoteles của Aquinas, Aquinas thường tìm cách diễn dịch lại hoặc xem đó chỉ là những giả thuyết Augustinô vay mượn để tranh luận. ↩︎
  7. Làm cho sống theo lối tác nhân (Causa efficiens) và mô thể (Causa formalis): Đây là sự áp dụng học thuyết “Bốn nguyên nhân” của Aristoteles vào Thần học.
    [a] Tác nhân (Efficient cause): Kẻ tác động từ bên ngoài. Thiên Chúa làm cho vạn vật sống bằng cách tạo dựng chúng (tác nhân).
    [b] Mô thể (Formal cause): Yếu tố cấu thành từ bên trong. Linh hồn con người làm cho thân xác sống vì nó chính là mô thể của thân xác (forma corporis). Nghi vấn 3 lập luận rằng: Nếu linh hồn truyền sự sống cho xác phàm, thì thiên thần (cao cấp hơn) cũng phải truyền sự sống cho một thể xác nào đó. Aquinas bẻ gãy lập luận này: Việc phải “nhập” vào vật chất để làm mô thể cho nó chứng tỏ linh hồn bị phụ thuộc vào vật chất để tạo thành một bản tính hoàn chỉnh (con người). Thiên thần vốn đã là một bản tính trọn vẹn, độc lập, nên việc ngài không làm “mô thể” cho xác phàm nào chính là minh chứng cho sự tự do và hoàn hảo vượt trội của ngài. ↩︎

You may also like