Giải mã danh tính Chúa Jesus

by Pao Pevil

Xuyên suốt quá trình truyền đạo của mình, Chúa Jesus từng đặt ra cho cả môn đồ lẫn những người chỉ trích nhiều câu hỏi đáng suy ngẫm, mà theo các học giả Kinh Thánh, con số đó lên tới 307 câu. Có lẽ câu hỏi mấu chốt nhất chính là “Các ngươi gọi ta là ai?” – một câu hỏi luôn giữ vai trò trung tâm trong việc nghiên cứu và thấu hiểu đức tin Cơ Đốc. Trong một bài phân tích mới về cuộc đời Chúa Jesus, nhà sử học tôn giáo nổi tiếng Elaine Pagels đã đón nhận thử thách giải mã danh tính của Đấng Christ thông qua sự kết hợp đầy sức thuyết phục giữa bối cảnh lịch sử, góc nhìn phê bình Kinh Thánh và những suy tư thần học. Trong nỗ lực đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mà Jesus dành cho các môn đồ, bản thân bà cũng đặt ra nhiều câu hỏi của riêng mình: làm thế nào để giải thích sự thụ thai mầu nhiệm của Đức Mẹ đồng trinh, liệu Jesus có thực sự làm nên những phép lạ, ý nghĩa đằng sau sự kiện đóng đinh trên thập tự giá là gì, Ngài có thực sự sống lại từ cõi chết hay không, và bằng cách nào một vị giáo sĩ lang bạt của thế kỷ thứ nhất, xuất thân từ một vùng quê hẻo lánh của La Mã, lại trở thành Đức Chúa Trời?

Dù đây hoàn toàn không phải là những câu hỏi mới mẻ và đã từng được các nhà thần học cũng như các bậc chức sắc giáo hội mổ xẻ từ những thế kỷ đầu tiên của đạo giáo, điều mà Pagels mang đến cho cuộc tranh luận lại là một sự tò mò đầy sáng suốt, có sức hấp dẫn đối với cả những người hoài nghi muốn tin nhưng vẫn còn nhiều ngờ vực. Bà cũng thẳng thắn giãi bày về những hoài nghi của chính mình khi kể lại nền tảng tôn giáo cá nhân. Lớn lên trong nhà thờ Giám lý ở miền nam California, bà được nuôi dưỡng bằng những lời khuyên răn nề nếp của đạo Tin Lành vùng ngoại ô yên bình, nơi người ta chỉ đơn giản khuyến khích nhau hãy “sống tốt”. Dẫu vậy, bà vẫn cảm thấy giáo đoàn của mình thiếu vắng ngọn lửa đam mê vì sự công bằng xã hội từng được người sáng lập giáo phái là John Wesley đề xướng. Khi được tiếp xúc với Công giáo thông qua một người bạn cùng lớp, Pagels nhận thấy những ngọn nến lung linh và những bí ẩn mang tính nghi lễ của tôn giáo này vừa hấp dẫn, lại vừa có chút đáng sợ. Sau một thời gian ngắn gắn bó với nhà thờ Tin Lành Phúc âm nhưng rốt cuộc lại mang về sự thất vọng, cuối cùng bà đã tìm thấy điều mình thực sự khao khát trong một chương trình tiến sĩ tại Harvard, nơi bà bắt đầu “sự nghiệp của đời mình” bằng cách đắm chìm vào lịch sử tôn giáo.

Trong cuốn sách mang tựa đề “Miracles and Wonder” (tạm dịch: Phép lạ và Điều kỳ diệu), phần lớn thời gian Pagels giữ vững sự khách quan của một học giả, thường xuyên thể hiện lập trường rằng thực chất bà không đứng về phía bất kỳ giả thuyết cụ thể nào khi bàn đến những cuộc tranh cãi về Chúa Christ. Lấy ví dụ về sự ra đời từ một trinh nữ, bà tiếp cận vấn đề theo cách mà mọi học giả có trách nhiệm nên làm, đó là bắt đầu bằng việc xem xét các văn bản – vốn dĩ có thể chứa đựng nhiều mâu thuẫn gây bối rối. Giống như nhiều Cơ Đốc nhân khác, những ấn tượng đầu tiên của bà về câu chuyện Giáng sinh được định hình bởi các buổi diễn kịch, những bài thánh ca và thiệp chúc mừng, những thứ thường gộp chung các chi tiết thực tế được kể trong Phúc âm theo Thánh Luke và Thánh Matthew lại với nhau, trong khi cả hai sách của Thánh John và Thánh Mark đều không hề đả động gì đến chủ đề này. Ở sách Phúc âm Matthew, không hề có chuyến đi nào tới Bethlehem, không có những người chăn chiên, và ba nhà thông thái đã đến thăm gia đình thánh trong một ngôi nhà chứ không phải là trong một chuồng gia súc. Bối cảnh chuồng gia súc này chỉ xuất hiện ở sách Phúc âm Luke, người tuy không hề nhắc đến một ngôi sao hay các nhà thông thái nào, nhưng lại kể về chuyến hành trình đến Bethlehem với lý do là để tuân thủ cuộc điều tra dân số của người La Mã, nhưng mang ý nghĩa sâu xa hơn là để ứng nghiệm lời tiên tri rằng Đấng Messiah sẽ được sinh ra “trong thành của David”.

Phức tạp hơn nữa là vấn đề mang thai của Mẹ Maria. Cả trong sách Matthew và Luke, sự ra đời của Chúa Jesus đều là sự ứng nghiệm của Kinh Thánh, trong đó tiên tri rằng “một trinh nữ sẽ mang thai và sinh một con trai” tên là Immanuel, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Tuy nhiên, từ tiếng Hebrew là “almah” lại mang ý nghĩa khá mơ hồ, nó có thể mang nghĩa là trinh nữ, nhưng cũng có thể đơn giản chỉ là “một người phụ nữ trẻ”. Sự nhầm lẫn trong dịch thuật này bắt nguồn từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, từ đó ảnh hưởng đến các bản dịch Kinh Thánh sau này, bắt đầu từ bản Vulgate trở đi. Các nghiên cứu gần đây hơn thậm chí còn đưa ra giả thuyết rằng cha của Jesus có thể là một người lính La Mã phục vụ tại Palestine vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất, người đã lợi dụng Maria. Đứng trước những luồng thông tin này, Pagels thận trọng khuyên độc giả đừng vội vàng kết luận rằng bà ủng hộ những giả thuyết như vậy. Thế nhưng, xuyên suốt tác phẩm, bà vẫn cảm thấy có trách nhiệm phải khám phá nhiều góc độ nhất có thể khi tiếp cận và thấu hiểu cuộc đời cũng như quá trình truyền đạo của Đấng Christ.

Chẳng hạn như những phép lạ của Ngài, có thể chúng không hề độc nhất vô nhị. Vào thế kỷ thứ nhất, ở vùng Galilee và các khu vực lân cận cũng từng xuất hiện những người được gọi là thầy lang và pháp sư. Nhưng điều làm nên sự khác biệt trong những phép lạ của Chúa Jesus chính là việc Ngài thường xuyên khẳng định rằng chính đức tin của người bệnh mới là thứ chữa lành cho họ, chứ không phải một chiêu trò ảo thuật nào đó, tương tự như một dạng tác dụng giả dược về mặt tâm lý. Ý nghĩa thực sự của những phép chữa lành mầu nhiệm không nằm nhiều ở kết quả cuối cùng, mà nằm ở chính hành động đó. Theo nhà sử học John Dominic Crossan, Jesus có lẽ đã không và không thể chữa khỏi bệnh phong hay bất kỳ căn bệnh thể chất nào khác. Thế nhưng, khi dang tay đón nhận những mảnh đời bị gạt bỏ ngoài lề xã hội ấy, Ngài đã nêu một tấm gương sáng bằng cách chữa lành sự cô lập và ruồng bỏ của cộng đồng đối với họ, điều này có thể đã đóng góp một phần to lớn vào việc cải thiện sức khỏe tinh thần của những con người bất hạnh này.

Việc Chúa Jesus bị quan tổng trấn Pontius Pilate kết án và chết trên cây thập tự là sự thật đã được cả các nhà sử học và thần học chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, việc giải thích tại sao người đàn ông bị đóng đinh trên thập tự giá này thực chất lại là Đức Chúa Trời lại là một điều khó khăn hơn nhiều. Dù Jesus thường tỏ ra kín kẽ về thần tính của mình trong các sách Phúc âm Matthew, Mark và Luke, nhưng trong sách của John, Ngài lại tuyên bố rõ ràng rằng Ngài và Chúa Cha là một. Phúc âm John cũng đặt ngày diễn ra cuộc khổ hình sớm hơn một ngày so với các sách Phúc âm khác, để trùng khớp với thời điểm hiến tế cừu non trong lễ Vượt Qua. Bằng cách gọi Jesus là “Chiên con của Đức Chúa Trời” từ trước, John qua đó đã nâng tầm sự kiện đóng đinh từ một vụ hành quyết thông thường của người La Mã trở thành một sự hy sinh thiêng liêng và tối thượng vì toàn nhân loại.

Còn về sự Phục sinh, Pagels vẫn giữ thái độ trung lập khi chỉ xác nhận rằng sau khi Jesus qua đời, nhiều người đã khẳng định nhìn thấy Ngài còn sống. Bà nhường phần giải thích cho thánh Paul để nói với cả những tín đồ lẫn những người hoài nghi rằng dù thể xác trần tục có bị chôn vùi, thứ sống lại mới chính là một thân thể mang tính tâm linh thiêng liêng. Việc tông đồ Thomas cần phải nhìn thấy và chạm vào những vết thương của Đấng Christ phục sinh giống với sự thiếu hụt đức tin hơn là một bằng chứng vật lý về sự sống lại của một người đã khuất. Rốt cuộc, sức hấp dẫn và sự vinh quang chiến thắng của Cơ Đốc giáo luôn nằm ở lời hứa hẹn về một cuộc sống vĩnh cửu và sự chấm dứt những khổ đau nơi trần thế. Nếu chỉ coi các sách Phúc âm như những tài liệu lịch sử khô khan thì đó là một sự hiểu lầm về ý nghĩa cốt lõi của chúng. Thế nhưng, như Pagels đúc kết, điều mà những văn tự này mang lại chính là thứ mà nhân loại thường cần đến nhất: một tia hy vọng bùng lên rực rỡ giữa những tháng ngày tăm tối.

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.