Tổng Luận Thần Học – Vấn Đề 49

by Pao Pevil

Nối tiếp suy tư về bản chất của sự dữ như một “sự thiếu vắng điều thiện“, một câu hỏi hóc búa khác ngay lập tức hiện diện: Vậy nguyên nhân nào thực sự sinh ra cái ác? Liệu Thiên Chúa – cội nguồn của vạn vật và mọi sự tốt lành – có phải là tác giả của những khổ đau và tội lỗi? Hay vũ trụ này bị chi phối bởi một thế lực Hắc ám tối cao tồn tại đối nghịch với Ngài? Trong Vấn đề 49, Phần I của tác phẩm Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica), Thánh Thomas Aquinas tiếp tục dẫn dắt chúng ta đi tìm lời giải cho nguồn gốc của những góc khuất trong thế giới thụ tạo.

Với tư duy phân tích sắc sảo, Aquinas bác bỏ hoàn toàn tư tưởng nhị nguyên vốn tin vào một nguyên lý Ác tuyệt đối. Ông lập luận rằng, vì cái ác không phải là một thực thể độc lập, nó không thể có một nguyên nhân trực tiếp. Thật nghịch lý nhưng đầy sức thuyết phục, Aquinas chỉ ra rằng cái ác chỉ có thể phát sinh một cách ngẫu nhiên từ chính điều thiện. Mặc dù Đấng Tạo Hóa cho phép những sự khiếm khuyết nhất định xảy ra nhằm duy trì trật tự và sự đa dạng của một vũ trụ hoàn hảo, Ngài tuyệt đối không phải là cội rễ của tội lỗi.

MỤC 1: Điều thiện có thể là căn nguyên của điều ác chăng?

NGHI VẤN. Hình như điều thiện không thể là căn nguyên của điều ác.

1. Chúa trong Tin Mừng thánh Matthêu (7,18): Cây tốt không thể sinh ran h, quả xấu.

2. Vả lại, trong hai điều tương phản, điều nọ không thể là căn nguyên của điều kia. Mà điều ác thì tương phản với điều thiện. Cho nên điều thiện không thể là căn nguyên của điều ác.

3. Vả lại, công hiệu thiếu sót chỉ có thể phát xuất bởi căn nguyên thiếu sót. Nhưng dù có căn nguyên, thì điều ác vẫn là công hiệu thiếu sót. Cho nên phải có căn nguyên khiếm khuyết. Mà mọi điều thiếu sót đều là điều ác. Cho nên căn nguyên của điều ác chỉ là điều ác.

4. Vả lại, trong De Div. Nom. (cap.4), Dionysius nói rằng, điều ác không có căn nguyên. Cho nên điều thiện không phải là căn nguyên của điều ác. Phát sinh bởi năng lực của tác nhân; đôi khi bởi khuyết điểm của chính tác nhân hay của chất thể. Bởi năng lực hay bởi sự hoàn bị của tác nhân, khi tác nhân đạt được mô thể dự kiến lại nhất thiết phải mất một mô thể khác: như được mô thể của lửa thì mất mô thể của không khí hay của nước. Như lửa càng hoàn bị về năng lực bao nhiêu thì càng áp đặt mô thể của mình, và cũng càng tiêu diệt điều tương phản bấy nhiêu, vì thế sự huỷ hoại của không khí và nước là do sự hoàn bị của lửa. Nhưng đó là điều ngẫu trừ vì lửa không chủ tâm làm mất mô thể của nước, mà chỉ chủ ý du nhập mô thể của mình vào, và khi thực hiện điều này, thì do ngẫu trừ làm phát sinh điều kia. – Còn nếu có sự khuyết điểm nơi công hiệu riêng của lửa, như khi khiếm khuyết trong việc đốt nóng, thì đó là do khuyết điểm của hoạt động, phát sinh từ sự khuyết điểm của một nguyên lý nào đó, như đã nói trên; hoặc do sự thiếu chỉnh bị của chất thể, không tiếp nhận hoạt động của lửa. Nhưng chính sự kiện thiếu hụt này cũng là điều tình cơ đối với điều thiện, là điều tự thể có sở năng hoạt động. Cho nên, thực quả là điều ác tuyệt nhiên không có căn nguyên, có chăng là do tình cờ. Và như vậy điều thiện là căn nguyên của điều ác.

GIẢI ĐÁP.

1. Như thánh Augustinô đã nói trong Contra Julian.: Chúa gọi ác ý là cây xấu, và thiện ý là câu tốt. Do thiện ý không phát sinh hành vi luân lý gian ác: vì hành vi luân lý được kể là thiện hảo nhờ chính ý muốn thiện thảo. Nhưng chính động tác cua ác ý lại do vật thụ tạo có lý trí, là vật thiện hảo. Như thế điều thiện là căn nguyên của điều ác.

2. Điều thiện không phát sinh thứ điều ác tương phản với mình, mà thứ điều ác khác: như sự thiện hảo của lửa phát sinh điều ác cho nước; và người lương thiện về bản tính phát sinh hành vi xấu về luân lý. Và đó là do ngẫu nhiên, như đã nói trên (nhưng; xc. Vđ.19, m.9). – Nhưng cũng có khi điều tương phản do ngẫu trừ là căn nguyên điều tương phản khác: như môi trường bên ngoài lại hâm nóng, vì nhiệt lực được tập trung vào bên trong.

3. Điều ác có căn nguyên khiếm khuyết một cách khác nhau nơi những căn nguyên hữu ý và tự nhiên. Thực vậy, tác nhân tự nhiên là thế nào thì phát sinh ra công hiệu như thế, đừng kể khi bị cản trở bởi ngoại căn nào đó; và chính đây là một khuyết điểm của nó. Vì thế không bao giờ có điều ác nơi công hiệu, nếu trước đó không có một điều ác nào nơi tác nhân hay nơi chất liệu, như đã nói trên (nhưng). Nhưng trong những việc hữu ý, khuyết điểm của hành vi lại phát xuất từ ý muốn thực sự khiếm khuyết, vì không thực sự tuân phục quy luật của mình. Tuy nhiên, khuyết điểm đó không phải là tội lỗi; nhưng theo sau tội lỗi, vì ý muốn hoạt động đang khi có khuyết điểm đó.

4. Điều ác do tự thể không có căn nguyên, nhưng chỉ do ngẫu trừ, như đã nói trên (nhưng).

MỤC 2: Điều chí thiện, tức là Thiên Chúa, có phải là căn nguyên của điều ác chăng?

NGHI VẤN. Hình như điều chí thiện, tức là Thiên Chúa, là căn nguyên của điều ác.

1. Sách ngôn sứ Isaia (45,6-7) viết: Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác. Ta tạo ra ánh sáng và dựng nên bóng tối, làm ra bình an và dựng nên tai hoạ. Và ngôn sứ Amos (3,6): Giả như tai hoạ xảy ra trong thành, lẽ nào lại không do Đức Chúa?

2. Công hiệu của căn nguyên đệ nhị được quy kết vào căn nguyên đệ nhất. Nhưng điều thiện là căn nguyên của điều ác, như đã nói trên (m.1). Vậy vì căn nguyên của mọi điều thiện là Thiên Chúa, như đã chứng minh trên đây (vđ.2, m.3; vđ.6, m.1.4); cho nên mọi điều ác cũng phát xuất từ Thiên Chúa.

3. Như nhà Hiền triết nói trong II Phys.: căn nguyên sự an toàn và nguy cơ của con tàu cũng là một. Mà Thiên Chúa là căn nguyên sự an toàn của mọi vật. Cho nên chính Người cũng là căn nguyên của mọi diệt vong và mọi điều ác.

NHƯNG. Thánh Augustinô nói trong Octoginta trium Quaest.: Thiên Chúa không phải là tác giả của điều ác, vì Người không phải là căn nguyên hướng về phi hữu thể.

LUẬN GIẢI. Như đã thấy trên đây (m.1), thứ điều ác hệ tại khuyết điểm của hành vi luôn luôn phát sinh do khuyết điểm của tác nhân. Nhưng nơi Thiên Chúa không có một khuyết điểm nào cả, mà chỉ có hoàn bị tuyệt đỉnh, như đã chứng minh trên đây (vđ.4, .1). Vì thế, ta không quy kết thứ điều ác, hệ tại khuyết điểm của hoạt động, hoặc phát xuất bởi khuyết điểm của tác nhân, vào Thiên Chúa như vào căn nguyên được.
Nhưng ta có thể quy kết thứ điều ác, hệ tại sự hư hoại của những vật nào đó, vào Thiên Chúa, như vào căn nguyên được. Và ta thấy rõ điều đó trong những điều tự nhiên cũng như trong những điều hữu ý. Trên đây (m.1) đã nói rằng: khi do năng lực của mình mà tác nhân nào phát xuất ra một mô thể có sự hư hoại hay khuyết điểm kèm theo, thì do năng lực của mình tác nhân ấy cũng phát sinh ra sự hư hoại và khuyết điểm. Nhưng hiển nhiên là mô thể mà Thiên Chúa nhằm tới cách chính yếu trong các vật thụ tạo là điều thiện về trật tự của vũ trụ. Mà như đã nói trên (vđ.22, m.2, gđ.2; vđ.48, m.2), trật tự của vũ trụ đòi hỏi rằng, một số vật nào đó có thể thiếu sót, và đôi khi thiếu sót thật. Như thế, vì là căn nguyên của điều thiện về trật tự của vũ trụ, thì do hệ quả và ngẫu trừ Thiên Chúa cũng là căn nguyên những hư hoại của các vật, theo lời sách 1Sm (2,6): Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh, tử. Nhưng sách Khôn Ngoan (1,13) lại nói: Thiên Chúa không làm ra cái chết, như để ta hiểu rằng, cái chết không tự thể được nhắm tới. – Trật tự của đức công bình, đòi phải trừng phạt những tội nhân, cũng thuộc về trật tự của vũ trụ. Và theo đó, Thiên Chúa là tác giả của thứ điều ác là hình phạt; nhưng không phải là tác giả của thứ điều ác là tội lỗi, vì lẽ đã viện dẫn trên đây (nhưng; xc. Vđ.48, m.6).

GIẢI ĐÁP.

1. Những thế giá đó bàn về điều ác của hình phạt, chứ không phải về điều ác của tội lỗi.

2. Công hiệu của căn nguyên đệ nhị khiếm khuyết được quy kết vào căn nguyên đệ nhất không khiếm khuyết, xét về khía cạnh thực thể và sự hoàn bị, chứ không xét về khía cạnh khuyết điểm. Như phàm chi là chuyển động trong sự khập khiễng thì được phát xuất do sức chuyển động; còn phàm chi cong queo trong đó thì không phát xuất do sức chuyển động mà do sự dị hình của ống chân. Cũng vậy, tất cả những chi là thực thể và hoạt động trong hoạt động gian ác thì được quy về Thiên Chúa như về căn nguyên; nhưng phàm chi là khuyết điểm trong đó thì không do Thiên Chúa phát xuất, mà do căn nguyên khuyết điểm đệ nhị.

3. Việc đắm tàu được quy cho thuỷ thủ như cho căn nguyên, vì không hoạt động đúng đắn để con tàu được an toàn. nhưng Thiên Chúa không thiếu sót khi trù liệu điều cần thiết cho cuộc an sinh. Thế nên hai trường hợp không giống nhau.

MỤC 3: Phải chăng là có điều cực ác là căn nguyên của mọi điều ác?

NGHI VẤN. Hình như có điều cực ác là căn nguyên của mọi điều ác.

1. Những công hiệu tương phản thì có những căn nguyên tương phản. Nhưng có sự tương phản nơi các vật, theo lời sách Huấn Ca (33,15): Có dữ thì cũng có lành, có chết thì cũng có sống. Cũng thế, có người đạo hạnh thì cũng có kẻ tội lỗi. Cho nên có những nguyên khởi tương phản: ấy là của điều thiện và của điều ác.

2. Nếu một trong những điều tương phản có trong thiên nhiên, thì điều kia cũng có, như nhà Hiền triết viết trong II De Caelo et Mundo. Mà điều chí thiện thì có trong thiên nhiên, là căn nguyên của mọi điều thiện, như đã chứng minh (vđ.2, m.3; vđ.6, m.2.4). Cho nên điều cực ác, tương phản với điều tuyệt hảo, là căn nguyên của mọi điều ác.

3. Vả lại, như trong các vật ta thấy có điều tốt và điều xấu hơn, thì cũng thấy có điều ác và điều ác hơn. Nhưng tốt và tốt hơn là nói theo tương quan với điều tuyệt hảo. Cho nên điều ác và ác hơn cũng là nói theo tương phản với điều cực ác.

4. Vả lại, phàm chi là thế do thông dự thì phải quy kết về điều là thế do yếu tính. Nhưng những chi là ác nơi chúng ta không phải là những điều ác do yếu tính, mà do thông dự. Cho nên phải tìm ra điều ác do yếu tính, là căn nguyên mọi điều ác.

5. Phàm chi hiện hữu do ngẫu trừ thì phải quy kết vào điều hiện hữu do tự thể. Nhưng điều thiện là căn nguyên của điều ác do ngẫu trừ. Cho nên phải công nhận một điều cực ác, là căn nguyên tự thể của những điều ác. – Cũng không thể nói đều ác không có căn nguyên do tự thể, mà chỉ do ngẫu trừ: chẳng vậy không phải phần nhiều, mà phần ít là điều ác.

6. Điều ác của công hiệu phải được quy kết vào điều ác của căn nguyên: vì công hiệu khiếm khuyết là do căn nguyên khiếm khuyết, như đã nói trên (m.1.2). Nhưng điều đó không diễn tiến đến vô tận. Cho nên phải công nhận một điều ác tệ nhất, là căn nguyên mọi điều ác.

NHƯNG. Điều tuyệt hảo là căn nguyên mọi hữu thể, như đã chứng minh (vđ.2, m.3; vđ.6, m.4). Cho nên không thể có nguyên khởi tương phản với nó, là căn nguyên mọi điều ác.

LUẬN GIẢI. Do những điều nói trên đây, hiển nhiên là có một nguyên khởi đệ nhất, như đã chứng minh trên đây (vđ.6, m.3.4). Nhưng không chi có thể là điều ác theo yếu tính; vì đã chứng minh trên đây (vđ.5, m.3; vđ.48, m.3) rằng, mọi hữu thể, xét như hữu thể, đều là điều thiện; và điều ác chỉ hiện hữu nếu nó có nơi điều thiện như nơi chủ thể.

Hai là, vì nguyên khởi đệ nhất của các điều thiện là điều tuyệt hảo và hoàn hảo, có sẵn nơi mình mọi thiện hảo như đã chứng minh trên đây (vđ.6, m.2). Nhưng không thể có điều cực ác: vì như đã chứng minh (vđ.48, m.4), dẫn điều ác có giảm bớt điều thiện, nhưng không bao giờ có thể hoàn toàn huỷ hoại; và như thế, vì điều thiện luôn luôn tồn tại nên không chi có thể là ác toàn diện và trọn vẹn được. Bởi đó nhà Hiền triết viết trong IV Ethic.: nếu là điều ác toàn diện thì nó tự tiêu diệt mình: vì một khi mọi điều thiện bị huỷ hoại (điều ác toàn diện đòi hỏi như thế), thì điều ác cũng bị tiêu ma, vì chủ thể của nó là điều thiện.

Ba là, lý tính của điều ác thì tương phản với lý tính của nguyên khởi đệ nhất. Một đàng vì mọi điều ác phát xuất từ điều thiện, như đã chứng minh trên (m.1). Đàng khác, điều ác chỉ là căn nguyên do ngẫu trừ, vì thế không thể là căn nguyên đệ nhất, vì căn nguyên do ngẫu trừ phải có sau căn nguyên do tự thể, như đã được chứng trong quyển II Phys.

Những ai công nhận hai nguyên khởi đệ nhất đã sa vào sai lầm này, vì cũng một lý do đã làm phát sinh những lập trường xa lạ của những học giả cổ thời: ấy là vì các vị không suy đến căn nguyên phổ quát của mọi hữu thể, mà chỉ để ý đến những căn nguyên đặc thù của những công hiệu đặc thù. Vì thế, khi họ thấy điều gì do bản tính của nó di hại cho vật khác, thì họ cho bản tính của vật ấy là xấu: chẳng hạn khi ai nói bản tính của lửa thì xấu vì đốt cháy căn nhà của người nghèo nào đó. – Nhưng ta không được đoán định về sự thiện hảo của một vật theo tương quan với điều nào đặc thù, nhưng theo chính nó và theo tương quan với toàn thể vũ trụ, trong đó mỗi vật có chỗ đứng rất ngăn nắp của mình, như đã chứng minh trên (vđ.47, m.2; gđ.1).

Cũng vậy, vì thấy hai căn nguyên đặc thù tương phản của hai công hiệu đặc thù, họ không biết quy kết những căn nguyên đặc thù vào căn nguyên phổ quát chung. Vì thế họ cho rằng chính những nguyên khởi đệ nhất cũng tương phản nhau. – Nhưng vì mọi tương phản đều phù hợp với nhau nơi một điều chung, nên phải tìm trong các tương phản ấy một căn nguyên chung, vượt trên mọi căn nguyên tương phản riêng, như trên các thể thức đối nghịch của các nguyên tố thì có năng lực của thiên thể. Cũng vậy, trên các vật hiện hữu bất cứ cách nào, ta thấy có một nguyên khởi đệ nhất của hữu thể, như đã chứng minh trên đây (vđ.2, m.3).

GIẢI ĐÁP.

1. Những điều tương phản thì phù hợp với nhau trong một giống, và cũng phù hợp với nhau trong lý tính của hữu thể. Vì thế dù chúng có những căn nguyên đặc thù, nhưng phải đi đến một căn nguyên đệ nhất chung.

2. Sự thiếu hụt và thủ đắc thể hiện cách tự nhiên nơi cũng một chủ thể. Nhưng chủ thể của sự thiếu hụt là hữu thể trong tiềm thể (như đã nói trên – vđ.48, m.3). Mà vì điều ác là sự thiếu hụt điều thiện, như đã chứng minh (ibi), điều ác chỉ có thể đối lập với điều thiện trong đó có tiềm thể kèm theo, chứ không đối lập với điều thiện tuyệt đỉnh, là hiện thể thuần tuý.

3. Mỗi hữu thể được cứu xét theo lý tính riêng. nhưng như mô thể là sự hoàn bị nào đó, thì sự thiếu hụt là sự xa cách nào đó. Vì thế mọi mô thể, mọi hoàn bị và điều thiện được cứu xét theo sự tới gần đích hạn hoàn bị; còn sự khuyết phạp và điều ác thì được cứu xét theo sự lìa xa khởi hạn. Cho nên ta không nói một vật là ác, hoặc ác hơn, vì nó tới gần điều cực ác, như ta nói điều thiện và thiện hảo hơn vì nó tới gần điều thiện tuyệt đỉnh.

5. Điều ác chỉ có thể có căn nguyên do ngẫu trừ, như đã chứng minh (m.1). Cho nên không thể được quy kết vào điều nào tự thể là căn nguyên của điều ác. – Về câu nói: phần nhiều là điều ác, câu nói đó xét tuyệt đối là sai. Vì những việc khả sinh và khả hoại, trong đó mới có điều ác của thiên nhiên, là phần nhỏ của toàn thể vũ trụ. Lại trong mỗi loại, sự khuyết điểm về bản tính có xảy ra cũng là phần ít. Nhưng chỉ nơi con người, hình như điều ác lại năng xảy ra: vì điều thiện theo giác quan của con người không phải là của người như người, nghĩa là theo lý trí; mà nhiều người theo giác quan hơn là theo lý trí.

6. Trong các căn nguyên của điều ác, ta không thể đi mãi đến vô tận, mà phải quy kết mọi điều ác vào một thiện căn nào đó, từ đây do ngẫu trừ mà điều ác phát sinh.

You may also like