Trong thế giới thụ tạo, bên cạnh vẻ đẹp và trật tự, nhân loại luôn trăn trở trước một thực tại u tối: sự hiện diện của cái ác. Nếu Thiên Chúa là Đấng toàn thiện và là cội nguồn của muôn loài, thì sự dữ từ đâu mà đến? Liệu nó có phải là một thế lực độc lập, tồn tại song song và đối nghịch với cái thiện? Trong Vấn đề 48, Phần I của Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica), Thánh Thomas Aquinas đã trực tiếp đối diện với bí nhiệm này để đưa ra một cách lý giải kinh điển cho thần học Kitô giáo.
Thay vì coi cái ác là một bản thể (substance) hay một sự vật có thực, Aquinas khẳng định cái ác thực chất chỉ là “sự thiếu vắng điều thiện” (privatio boni). Giống như bóng tối đơn thuần là sự vắng mặt của ánh sáng, hay sự mù lòa là sự thiếu hụt thị giác tự nhiên, cái ác không thể tự tồn tại mà chỉ là một sự khiếm khuyết bám víu vào một chủ thể vốn dĩ tốt lành. Qua Vấn đề 48, Aquinas không chỉ giải quyết một nghịch lý triết học để bảo vệ sự trọn lành của Đấng Tạo Hóa, mà còn tháo gỡ những nặng nề về tư tưởng nhị nguyên, giúp người đọc không còn nhìn sự dữ như một thế lực toàn năng.
MỤC 1: Điều ác có phải là một bản tính nào đó chăng?
NGHI VẤN. Hình như điều ác là một bản tính thực hữu nào đó.
1. Mọi giống là một bản tính nào đó. Mà điều ác là một giống nào đó: vì trong cuống Praedicamentis có ói: điều thiện và điều ác không hàm chứa trong giống, mà là những giống của các vật khác. Cho nên điều ác là một bản tính nào đó.
2. Mọi dị điểm cấu thành của một loại là một bản tính nào đó. Nhưng điều ác là một dị điểm cấu thành trong lãnh vực luân lý: vì tập quán xấu thì khác nhau về loại, như tính hào phóng khác với hà tiện. Cho nên điều ác biểu thị một bản tính nào đó.
3. Vả lại, mỗi vật trong hai vật tương phản nhau đều là một bản tính nào đó. Mà điều ác và điều thiện không đối lập nhau như sự khuyến phạp và sự chiếm hữu, mà như những điều tương phản, như nhà Hiền triết chứng minh trong cuốn Praedicamentis rằng: giữa điều thiện và điều ác có một điều trung gian, và ta có thể cải ác hoàn thiện. Cho nên điều ác là một bản tính nào đó.
4. Vả lại, điều không hiện hữu thì không hoạt động. Nhưng điều ác thì hoạt động: vì nó huỷ hoại điều thiện. Cho nên điều ác là một hữu thể và là một bản tính nào đó.
5. Vả lại, điều thuộc về sự hoàn bị của vũ trụ phải là hữu thể hay bản tính nào đó. Mà điều ác cũng thuộc về sự hoàn bị của vũ trụ: thực vậy, thánh Augustinô nói trong quyển Enchirid. rằng: Vẻ đẹp lạ lùng của vũ trụ hệ tại mọi vật, trong đó cả điều ta gọi là ác, nếu được phối trí cho hoàn hảo, được đặt đúng chỗ, cũng giúp chon h, điều thiện được rạng rỡ hơn. Cho nên điều ác là một bản tính nào đó.
NHƯNG. Trong quyển De Div. Nom. (cap.4) Dionysius viết rằng: điều ác không phải là điều hiện hữu, cũng chẳng phải là điều thiện hảo.
LUẬN GIẢI. Khi hai điều tương phản nhau, thì ta nhờ điều nọ mà nhận biết điều kia, như nhờ ánh sáng mà nhận biết bóng tối. Cho nên muốn biết điều ác là gì thì phải nhờ quan niệm về điều thiện. Chúng tôi đã nói ở trên (vđ.5, m.1) rằng: điều thiện là tất cả những chi đáng ham muốn. Vậy vì mọi bản tính đều ham muốn hiện hữu và sự hoàn bị của mình, cho nên cần phải nói rằng hữu thể và sự hoàn bị của bất cứ bản tính nào đều có lý tính của điều thiện. Vì thế điều ác không thể biểu thị một hữu thể, một mô thể, hoặc một bản tính nào đó. Thành thử hạn từ điều ác biểu thị sự khiếm diện điều thiện. Vì thế Dionysius nói: Điều ác không phải là điều hiện hữu, cũng chẳng phải là điều thiện hảo: vì mọi hữu thể, xét như hữu thể, phải là điều thiện, nên ta không thể chối bỏ điều nọ mà không chối bỏ điều kia.
GIẢI ĐÁP.
1. Ở đây Aristote nói theo ý kiến của nhóm Pythagore. Vì coi điều ác là một bản tính nào đó, nên họ chủ trương điều thiện và điều ác là những giống. Thực vậy, Aristote quen dùng, đặc biệt trong các sách luận lý, những thí dụ cái nhiên của thời đại, theo ý kiến một số triết gia khác. – Hoặc phải giải đáp như thế này, như nhà Hiền triết nhận định trong quyển X Metaphys. rằng: Sự tương phản thứ nhất là sự chiếm hữu và sự khuyết phạp: vì ta thấy nó trong mọi điều tương phản: bởi vì trong hai điều tương phản điều nọ luôn luôn khiếm khuyết hơn điều kia, như màu đen đối với màu trắng, vị đắng đối với vị ngọt. Vì thế, thiện và ác được gọi là những giống của những điều tương phản nhau, chứ không phải một cách đơn thuần: vì như mọi mô thể đều có lý tính của điều thiện, thì mọi khuyết phạp, xét như khuyết phạp, có lý tính của điều ác.
2. Điều thiện và điều ác chỉ là dị điểm cấu thành những hành vi luân lý, là những hành vi được định loại bởi mục đích, là đối tượng của ý muốn, mà mọi hành vi luân lý phải lệ thuộc. VÀ vì điều thiện có lý tính của mục đích, cho nên điều thiện và điều ác là những dị điểm loại định trong lãnh vực luân lý: điều thiện thì loại định cách tự thể, còn điều ác thì vì sự thiếu hụt mục đích chính đáng. Tuy nhiên, sự thiếu hụt mục đích chính đang chỉ cấu thành một loại trong lãnh vực luân lý, khi nó câu kết với một mục đích bất chính: cũng như trong lãnh vực tự nhiên, chỉ có sự thiếu mất mô thể bản thể khi có sự cấu kết với một mô thể khác. Vì thế, điều ác là dị điểm cấu thành trong lãnh vực luân lý, cũng là điều thiện nào đó cấu kết với sự khuyết mất điều thiện khác: thí dụ mục đích của người phóng túng là điều khoái cảm, trái với trật tự của lý trí, chứ không phải là thiếu mất điều thiện của lý trí. Thành thử điều ác là dị điểm cấu thành vì có điều thiện kèm theo, chứ không phải vì lẽ là điều ác.
3. Như thế đã rõ phải giải đáp nghi vấn thứ ba như thế nào rồi. Vì ở đó nhà Hiền triết nói về thiện ác, như thấy trong những vụ việc luân lý. Trong những vụ việc này ta có thể nói giữa điều thiện và điều ác có điều trung gian, là vì ta dọi điều thiện là điều có trật tự, còn điều ác không những là điều vô trật tự, mà còn là điều có hại cho tha nhân. Vì thế trong quyển IV Ethic. ông nói: người hoang phí quả là người phù ảo, nhưng không phải là người ác. Cả khi điều ác, thuộc lãnh vực luân lý, có thể biến thành điều thiện: thì điều thiện cũng không phải từ bất cứ điều ác nào mà thành. Thực vậy, cứ tự nhiên ta không vãn hồi thị giác từ đui mù, dù đui mù là một điều ác nào đó.
4. Có thể hiểu “hoạt động gì đó” ba cách. Một là theo mô thể, như khi nói màu trắng làm cho một vật hoá trắng.Và như thế, điều ác, với cả lý tính của sự thiếu hụt, cũng gọi là việc huỷ hoại điều thiện: vì là chính sự huỷ hoại hay là sự thiếu hụt về điều thiện. Hai là, hoạt động gì đó cách hữu hiệu, như khi nói thợ vẽ làm cho bức tường được trắng. Ba là theo cách thức của căn nguyên mục đích: như nói mục đích hoạt động bằng cách huy động tác nhân. Với hai cách sau, điều ác tự thể, nghĩa là xét như nó là sự thiếu hụt nào đó, không hoạt động gì hết, nhưng như có điều thiện kèm theo: vì mọi hoạt động đều do một mô thể, và bất cứ cái gì được ham muốn như mục đích đều là sự hoàn bị nào đó. Vì thế, trong quyển De Div. Nom (cap.4) Dionysius nói: điều ác chỉ hoạt động và chỉ được ham muốn, vì lý tính của điều thiện kèm theo; nhưng nguyên n ó, điều ác thì phi cùng đích, lại phản ngược với ý muốn và ý định.
5. Như đã nói ở trên (vđ.2, m.3; vđ.19, m.5, gđ.2; vđ.21, m.1, gđ.3; vđ.44, m.9): các phần của vũ trụ được phối trí với nhau, đến độ phần nọ tác động đền phần kia, và là mục đích cùng kiểu mẫu của phần ấy. Nhưng như đã nói trên (gđ.4), điều đó không thể thích hợp với điều ác, có chăng là do lý tính của điều thiện kèm theo. Cho nên điều ác không thuộc về sự hoàn bị của vũ trụ, cũng chẳng được chi phối bởi trật tự vũ trụ, có chăng là do ngẫu trừ, nghĩa là do lý tính của điều thiện kèm theo.
MỤC 2: Điều ác có trong các vật chăng?
NGHI VẤN. Hình như điều ác không có trong các vật.
1. Phàm chi có trong các vật, thì hoặc là hữu thể nào đó, hoặc là sự thiếu hụt về hữu thể nào đó, tức là phi hữu thể. Nhưng trong quyển De Div. Nom. (cap.4) Dionysius nói rằng: đã đành là điều ác xa cách điều hiện hữu, nhưng còn xa cách điều không hiện hữu hơn. Cho nên điều ác tuyệt nhiên không có trong các vật.
2. Vả l ại, hữu thể và sự vật thì đồng nhất với nhau. Vậy nếu điều ác là hữu thể trong vạn vật, ắt nó sẽ là một vật nào đó. Điều này tương phản với những điều đã nói trên (m.1).
3. Màu càng trắng càng khó pha trộn với màu đen, như Aristote viết trong quyển III Topic.. Cho nên điều càng hoàn hảo càng khó pha trộn với điều ác. Mà Thiên Chúa, hơn hẳn thiên nhiên, luôn luôn tác thành điều thiện hảo hơn. Cho nên trong các vật đã được Thiên Chúa dựng nên, không có vật nào là ác.
NHƯNG. Nếu như thế thì phải loại bỏ mọi thứ cấm đoán và hình phạt, vì chúng chỉ nhằm vào điều ác.
LUẬN GIẢI. Như đã nói trên (vđ.47, m.2) sự hoàn bị của vũ trụ đòi phải có sự chênh lệch giữa các vật, để thể hiện mọi cấp bậc của điều thiện hảo. Nhưng cấp bậc thứ nhất của sự thiện hảo là, có điều thiện hảo dường ấy, đến độ không bao giờ có thể suy thoái. Cấp bậc thứ hai là, điều nào đó thì hiện hảo đấy, nhưng có thể suy thoái về điều thiện. Những cấp bậc này được nhận thấy nơi chính hữu thể: thực vậy có những loại không thể mất hiện hữu của mình, như những vật vô chất; lại có những vật có thể mất trong như các vật hữu chất. Vậy, như sự hoàn bị của toàn thể vạn vật chẳng những đòi phải có các vật bất khả hoại, mà còn đòi phải có các vật khả hoại, thì sự hoàn bị của vũ trụ cũng đòi phải có một số vật có thể suy thoái về sự thiện hảo, thành thử đôi khi chúng suy thoái thực sự. Mà lý tính của điều ác hệ tại vật nào đó suy thoái về điều thiện. Cho nên hiển nhiên là điều ác có trong vạn vật, như sự hư hoại: vì sự hư hoại là một điều ác nào đó.
GIẢI ĐÁP.
1. Điều ác thì khác cả hữu thể thuần tuý lẫn phi hữu thể thuần tuý: vì nó không phải như sự chiếm hữu, cũng không phải như sự phủ nhận thuần tuý, mà như sự thiếu hụt.
2. Như nhà Hiền triết viết trong quyển V Metaphys.: Có thể hiểu hữu thể hai cách. Một là như biểu thị sự thực hữu của một vật, và được chia ra thành mười phạm trù: và như vậy thì đồng nghĩa với sự vật. Theo nghĩa này thì không sự thiếu hụt nào là hữu thể; nhiên hậu cả điều ác cũng vậy. Hai là, như biểu thị sự chân thật của mệnh đề, và hệ tại một sự nối kết, mà dấu hiệu của nó là động từ “có”; và hữu thể này được dùng để đáp lại câu hỏi: Có chăng? Theo nghĩa này ta nói sự mù loà, hay bất cứ sự khuyết phạp nào khác, có nơi con mắt. Theo cách này cả điều ác cũng được gọi là hữu thể. Nhưng một số người vì không am tường sự phân biệt này, và vì thấy có những vật bị coi là xấu, hay là điều ác có nơi các vật, nên họ tưởng rằng điều ác là một vật nào đó.
3. Thiên Chúa, thiên nhiên và bất cứ tác nhân nào cũng đều tác thành điều gì là thiện hảo hơn theo tổng thể; nhưng không tác thành điều gì là thiện hảo hơn theo từng phần, có chăng là để quy hướng chúng về tổng thể, như đã nói ở trên (vđ.47, m.2, gđ.1). Nhưng chính tổng thể, là toàn thể những vật thụ tạo, sẽ thiện hảo hay hoàn bị hơn, nếu trong đó có những vật có thể thiếu điều thiện, và đôi khi thiếu thật, vì Thiên Chúa không ngăn cản điều đó. Một đàng, nhiệm vụ của sự quan phòng không phải là phá huỷ thiên nhiên, mà là bảo tồn, như Dionysius nói trong sách De Div. Nom. (cap.4): Bản tính của các vật là, hễ những vật nào đã có thể suy thoái thì đôi khi suy thoái thật. Đàng khác, như thánh Augustinô nói trong cuốn Enchirid. rằng: Thiên Chúa quyền năng đến nỗi từ những điều ác Người có thể rút tỉa ra điều thiện. Vì thế, nếu Thiên Chúa không làm thinh cho điều ác xảy ra, hẳn sẽ thiếu mất nhiều điều thiện. Thực vậy, lửa không thể được phát sinh nếu không khí không bị hư hoại; sự sống của sư tử chỉ được bảo tồn nếu con lừa bị giết chết; sự công bình báo oán và sự nhẫn nại chịu đựng không được ca tụng, nếu không có sự gian ác.
MỤC 3: Điều ác có nơi điều thiện như nơi chủ thể chăng?
NGHI VẤN. Hình như điều ác không có nơi điều thiện như nơi chủ thể.
1. Vì mọi điều thiện đều thực hữu. Nhưng như Dionysius nói trong sách De Div Nom (cap.4) rằng: điều ác không phải là điều hiện hữu, cũng không có nơi vật hiện hữu. Cho nên điều ác không trụ nơi điều thiện như nơi chủ thể.
2. Vả lại, điều ác không phải là một chủ thể, còn điều thiện thì là một hữu thể. Mà phi hữu thể thì không đòi hỏi hữu thể để trụ tại đó như tại chủ thể. Cho nên điều ác cũng chẳng đòi hỏi điều thiện để trụ tại đó như tại chủ thể.
3. Vả lại, trong hai điều tương phản, điều nọ không phải là chủ thể cho điều kia. Nhưng điều thiện và điều ác là những điều tương phản nhau. Cho nên điều ác không trụ tại điều thiện như tại chủ thể.
4. Vả lại, điều tại đó màu trắng trụ như tại chủ thể được gọi là vật trắng. Cho nên điều mà tại đó điều ác trụ như tại chủ thể thì gọi là điều ác. Cho nên nếu điều ác trụ tại điều thiện như tại chủ thể thì điều thiện sẽ là điều ác. Điều này tương phản với lời Isaia (5,2): Khốn cho các ngươi, những kẻ bảo ác là thiện và thiện là ác.
NHƯNG. Trong Enchirid., thánh Augustinô nói rằng: Điều ác chỉ trụ nơi điều thiện.
LUẬN GIẢI. Như đã nói ở trên (m.1), điều ác hàm súc sự xa cách điều thiện. Nhưng không phải bất cứ sự xa cách điều thiện nào cũng là ác. Vì có thể hiểu sự xa cách điều thiện cách thiếu hụt và cách phủ định. Vậy việc xa cách điều thiện cách phủ định không có lý tính của điều ác; chẳng vậy những chi tuyệt nhiên không có điều thiện sẽ là ác cả; lại bất cứ vật nào không có điều thiện của một vật khác cũng sẽ ác cả: chẳng hạn con người sẽ là ác, vì không có sự nhanh nhẹn như dê cái, hay sức khoẻ như sư tử. Nhưng sự xa cách điều thiện cách thiếu hụt thì gọi là ác: như thiếu thị lực thì gọi là mù loà. Nhưng chủ thể của sự thiếu hụt và của mô thể cũng là một và đồng nhất, ấy là hữu thể trong tiềm thể: chẳng kỳ là hữu thể trong tiềm thể cách tuyệt đối, như chất thể đệ nhất là chủ thể của mô thể bản thể và của sự thiếu hụt đối lập; hay là hữu thể trong tiềm thể theo khía cạnh nào đó, nhưng ở trong hiển thể cách tuyệt đối, như vật thể thông quang là chủ thể của những bóng tối và của ánh sáng. Vậy hiển nhiên mô thể, nhờ nó mà vật nào đó ở trong hiện thể, là sự hoàn bị và là điều thiện nào đó: và như thế mọi hữu thể trong hiện thể đều hướng về điều thiện nào đó. Cũng một cách, mọi hữu thể trong tiềm thể, xét nguyên nó như hướng về điều thiện nào đó. Cũng một cách, mọi hữu thể trong tiềm thể, xét nguyên nó như hướng về điều thiện, là một điều thiện nào đó; vì như nó là hữu thể trong tiềm thể, thì cũng là điều thiện trong tiềm thể. Thành thử chủ thể của điều ác là điều thiện.
GIẢI ĐÁP.
1. Dionysius có ý nói rằng, điều ác không có nơi các vật hiện hữu như thành phần, hay như đặc trưng tự nhiên của vật hiện hữu nào đó.
2. Nếu hiểu cách phủ định thì phi hữu thể không đòi phải có chủ thể. Nhưng sự thiếu hụt là sự phủ nhận nơi một chủ thể, như nói trong quyển IV Metaphys., và phi hữu thể này là điều ác.
3. Điều ác không trụ nơi điều thiện, đối lập với nó, như nơi chủ thể, mà trụ nơi điều thiện khác nào đó; thực vậy, chủ thể của sự mù loà không phải là thị giác, mà là động vật. Nhưng, thánh Augustinô ghi nhận, như thế thì hình như quy tắc sau đây của các nhà luận lý học là sai: những điều tương phản không thể cùng hiện hữu. Tuy nhiên, quy tắc đó phải được hiểu về điều thiện và điều ác nói chung, chứ không phải điều thiện này, và điều ác này. Cũng vậy, màu trắng và màu đen, vị ngọt và vị đắng, và những điều tương phản nhau như thế, chỉ được hiểu cách đặc thù: vì chúng có nơi những giống nhất định nào đó. Nhưng điều thiện thì bao trùm mọi giống: vì thế một điều thiện có thể đồng tồn với sự khuyết phạp về điều thiện khác.
4. Vị sứ ngôn chúc dữ chon h, ai bảo điều thiện, xét như điều thiện, là ác. Nhưng do những tiền đề không thể suy diễn ra điều đó. Hiển nhiên là như vậy (luận giải).
MỤC 4: Điều ác có huỷ hoại toàn thể điều thiện chăng?
NGHI VẤN. Hình như điều ác huỷ hoại toàn thể điều thiện.
1. Vì trong hai điều tương phản, điều nọ bị điều kia huỷ hoại hoàn toàn. Nhưng điều thiện và điều ác là những điều tương phản nhau. Cho nên điều ác có thể huỷ hoại toàn thể điều thiện.
2. Vả lại, thánh Augustinô nói trong Enchirid. Điều ác tác hại vì nó cất mất điều thiện. Mà điều thiện thì hoàn toàn giống nhau và đồng một mô thể. Cho nên nó bị huỷ hoại hoàn toàn bởi điều ác.
3. Vả lại, điều ác, hễ còn tồn tại, là tác hại và huỷ hoại điều thiện. Nhưng phàm chi luôn luôn bị mất đi điều gì cũng đến lúc bị huỷ hoại; trừ phi đó là điều vô tận; nhưng điều thiện thụ tạo thì không thể là vô tận. Cho nên điều ác hoàn toàn huỷ hoại điều thiện.
NHƯNG. Trong sách Enchirid. thánh Augustinô điều ác không thể hoàn toàn huỷ hoại điều thiện.
LUẬN GIẢI. Điều ác không thể hoàn toàn huỷ hoại điều thiện. Để hiểu điều đó nên lưu ý rằng, có ba thứ điều thiện. Một thứ bị hoàn toàn huỷ hoại bởi điều ác, đó là điều thiện tương phản với điều ác: như ánh sáng bị huỷ hoại bởi bóng tối, và thị lực bởi sự mù loà. Một thứ điều thiện nữa không bị hoàn toàn huỷ hoại bởi điều ác, cũng không bị suy giảm, đó là điều thiện làm chủ thể cho điều ác: như bản thể của không khí không bị suy giảm mảy may bởi bóng tối. Còn một thứ điều thiện nữa bị suy giảm bởi điều ác, nhưng không hoàn toàn bị huỷ hoại: đó là năng khiếu của chủ thể để trở thành hiện thể.
Không nên hiểu sự suy giảm điều thiện này theo lối khấu trừ, như sự giảm bớt về lượng, mà như sự suy yếu, như sự suy giảm về phẩm hay về mô thể. Nhưng phải hiểu sự suy yếu về năng khiếu này như tương phản với sự kiện cường của nó. Năng khiếu thì được kiện cường nhờ những chỉnh bị giúp cho chất thể trở thành hiện thể; những chỉnh bị này càng được gia tang nơi một chủ thể nào càng làm cho chủ thể ấy sẵn sàng hơn để đón nhận sự hoàn bị và mô thể. Trái lại, năng khiếu ấy bị suy yếu bởi những chỉnh bị tương phản: những chỉnh bị này càng được gia tang nơi chất thể, và càng cao cường, thì tiềm năng để đón nhận hiện thể càng bị suy giảm.
Vậy nếu những chỉnh bị tương phản không thể được bội tang và kiện cường đến vô tận, mà chỉ đến một giới hạn nào đó thôi, thì năng khiếu nói trên đây cũng không bị giảm bớt và suy yếu đến vô tận. Như ta thấy nơi những thể thức chủ động và thụ động của các yếu tố: chẳng hạn, khi lạnh và độ ẩm, làm cho khả năng bén lửa của chất liệu bị giảm bớt và suy yếu, không thể được gia tang đến vô tận. – Còn nếu những chỉnh bị tương phản có thể gia tang đến vô tận, thì năng khiếu nói trên cũng bị giảm bớt và suy yếu đến vô tận, nhưng không bị hoàn toàn tiêu diệt; vì nó vẫn tồn tại nơi gốc rễ, tức là bản thể của chủ thể. Chẳng hạn, nếu ta đặt vô số những vật thể đục mờ giữa mặt trời và không khí, thì khả năng được chiếu sáng của không khí sẽ bị giảm thiểu đến vô tận, nhưng bao lâu còn không khí thì khả năng ấy không hoàn toàn bị huỷ hoại, vì không khí theo bản tính là vật thông quang. Cũng vậy, ta có thể thêm tội nọ vào tội kia đến vô tận, do đó năng khiếu lãnh ân sủng của linh hồn sẽ luôn luôn bị suy giảm: thực vậy, những tội ấy là như những vật đục mờ được đặt giữa chúng ta và Thiên Chúa, theo lời Isaia (59,2): Tội lỗi chúng ta phân cách chúng ta với Thiên Chúa. Nhưng năng khiếu nói trên không hoàn toàn bị cất khỏi linh hồn: vì nó đi theo bản tính của linh hồn.
2. Năng khiếu nói trên là trung gian giữa chủ thể và hành vi. Vì thế xét theo tương quan với hành vi, vì bị suy giảm bởi điều ác; còn xét theo tương quan với chủ thể thì nó vẫn tồn tại. Cho nên, dù điều thiện vẫn đồng nhất với chính mình, nhưng xét theo tương quan với những vật khác thì nó không bị hoàn toàn huỷ hoại, mà chỉ bị phần nào thôi.
3. Một số học giả vì nghĩ rằng sự giảm bớt của điều thiện trên đây thì giống như sự gắn bó về lượng, nên chủ trương rằng, như lượng liên tục được tái phân đến vô tận, miễn là theo những tỷ lệ như nhau (như khi ta lấy một nửa của một nửa, hay một phần ba của một phần ba), thì năng khiếu cũng có thể được phân chia đến vô tận. Nhưng lý luận đó không thể áp dụng vào đây. Vì trong sự phân chia luôn luôn theo cũng một tỷ lệ, thì phân nửa ấy sẽ bị giảm bớt đi dần dần: một nửa của một nửa thì nhỏ hơn một nửa của toàn thể. Nhưng tội thứ hai không nhất thiết làm suy yếu khả năng của linh hồn [để lãnh ân sủng] ít hơn tội trước, không chừng còn làm suy yếu bằng hay hơn nữa. – Cho nên phải nói rằng, dù năng khiếu là một điều hữu hạn, nhưng bị giảm bớt đến vô tận, không phải tự thể, mà do ngẫu trừ, nghĩa là vì những chỉnh bị tương phản có thể gia tang đến vô tận, như đã nói trên (luận giải).
MỤC 5: Việc phần điều ác thành ác của hình phạt và của tội có đầy đủ chăng?
NGHI VẤN. Hình như việc phân điều ác thành ác của hình phạt và của tội thì không đầy đủ.
1. Hình như mọi khuyết điểm là một điều ác nào đó. Nhưng nơi mọi vật thụ tạo đều có khuyết điểm, là không tự bảo vệ được sự hiện hữu của mình; khuyết điểm ấy không phải là hình phạt cũng không phải là tội. Cho nên điều ác được phân thành ác của hình phạt và của tội thì quả là chưa đầy đủ.
2. Nơi những vật không có lý trí không có tội lỗi cũng chẳng có hình phạt. nhưng nơi chúng có sự hư hoại và khuyết điểm, những điều được quy kết vào điều ác. Cho nên không phải mọi điều ác đều là ác của hình phạt hay của tội lỗi.
3. Vả lại, cơn cám dỗ là một điều ác. Nhưng không phải là một hình phạt: vì cơn cám dỗ mà không ưng thuận, không phải là tội, mà là thể tài để tập nhân đức, như nói trong sách chú giải Glossa về thư của thánh Phaolô (2Cr 12,7). Cũng chẳng phải là hình phạt: vì nó đi trước tội lỗi, mà hình phạt thì theo sau. Cho nên, việc phân điều ác của hình phạt và của tội lỗi thì quả là không đầy đủ.
NHƯNG. Hình như sự phân chia ấy thì dư thừa. Thực vậy, thánh Augustinô viết trong Enchirid. rằng: Gọi là điều ác vì tác hại. Nhưng đã tác hại là giáng phạt rồi. Cho nên mọi điều ác đều được bao hàm trong hình phạt.
LUẬN GIẢI. Như đã nói trên (m.3), điều ác là sự thiếu hụt điều thiện, là điều ưu tiên và tự thể hệ tại một sự hoàn bị và hiện thể. Nhưng có hai thứ hiện thể là đệ nhất và đệ nhị. Hiện thể đệ nhất là mô thể và sự toàn vẹn của một vật; còn hiện thể đệ nhị là hoạt động. Cho nên điều ác xảy ra hai cách. Một là do sự lấy bớt mô thể hay một bộ phận thiết yếu cho sự vẹn toàn của một vật: như sự mù loà và sự thiếu một chi thể là điều ác. Hai là do sự bất bớt hoạt động phải có: hoặc vì tuyệt nhiên không có; hoặc vì không đúng cách và không đúng trật tự.
Vậy vì điều thiện đơn thuần là đối tượng của ý muốn, thì điều ác, như thiếu hụt điều thiện, cũng phải được nhận thấy cách đặc biệt nơi những thụ tạo có lý trí và ý muốn. Cho nên điều ác, xét như sự lấy bớt mô thể và sự vẹn toàn của một vật, có lý tính của hình phạt; nhất là khi giả định rằng, mọi vật đều phải suy phục sự an bài và công bình của Thiên Chúa, như đã chứng minh trên đây (vđ.22, m.2): quả thực, hình phạt, theo lý tính, là tương phản với ý muốn. Còn thứ điều ác, hệ tại sự lấy bớt hoạt động phải có trong lãnh vực hữu ý, thì có lý tính của tội lỗi. Thực vậy, ta quy tội chon g nào là vì người ấy đã thiết sót trong hoạt động hoàn bị, mà do ý muốn người ấy có chủ quyền. Cho nên, mọi điều ác trong lãnh vực hữu ý là hình phạt hay là tội lỗi.
GIẢI ĐÁP.
1. Vì điều ác là sự thiếu hụt điều thiện, chứ không phải là sự phủ định thuần tuý, như đã nói trên (m.3), nên không phải mọi thiếu điều thiện là điều ác, mà là sự thiếu điều thiện phải có theo bản tính. Thiếu thị lực nơi động vật, chứ không phải nơi khối đá, là điều ác: vì có thị lực thì tương phản với lý tính của khối đá. Cũng vậy, tự bảo vệ sự hiện hữu thì tương phản với lý tính của vật thụ tạo: vì Đấng thông ban và bảo tồn hiện hữu cũng là một. Cho nên khuyết điểm đó không phải là điều ác của tạo vật.
2. Điều ác được chia thành điều ác của hình phạt và của tội lỗi không phải là điều ác đơn thuần, mà là điều ác trong những hành vi hữu ý.
3. Nếu ta xét cơn cám dỗ như hàm súc sự xúi giục làm điều ác, thì về phía người dụ dỗ luôn luôn là tội lỗi. Còn về phía người bị dụ dỗ, thì nói đúng ra, không phải là điều ác, đừng kể khi bị xúc động hơn kém: vì hoạt động của tác nhân được chuyển sang thụ nhân. Nhưng nếu do người dụ dỗ mà người bị dụ dỗ hướng chiều về điều ác, thì người này sa vào tội lỗi rồi.
4. Đối với nghi vấn của phản đề phải giải đáp rằng: lý tính của hình phạt là tác hại cho tác nhân trong chính đương sự. Nhưng lý tính của tội lỗi là tác hại cho tác nhân trong hoạt động của đương sự. Như vậy cả hai đều hàm súc trong điều ác, xét như có lý tính của sự tổn hại.
MỤC 6: Hình phạt có lý tính của điều ác nhiều hơn tội lỗi chăng?
NGHI VẤN. Hình như hình phạt có lý tính của điều ác nhiều hơn tội lỗi.
1. Tội lỗi thì tương quan với hình phạt như công trạng với phần thưởng. Nhưng phần thưởng có lý tính của điều thiện nhiều hơn công trạng, vì là đích của công trạng. Cho nên hình phạt có lý tính của điều ác nhiều hơn tội lỗi.
2. Điều đối lập với điều thiện lớn hơn là điều ác lớn hơn. Nhưng hình phạt, như đã nói trên (m.5), thì đối lập với điều thiện của tác nhân; còn tội lỗi thì đối lập với điều thiện của hoạt động. Mà vì tác nhân thì hoàn hảo hơn hoạt động; cho nên hình như hình phạt thì ác hơn là tội lỗi.
3. Chính việc mất mục đích là một thứ hình phạt, gọi là mất sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Nhưng điều ác của tội chỉ là thiếu trật tự đưa tới đích. Do đó, hình phạt thì ác hơn tội lỗi.
NHƯNG. Người thông minh chấp nhận điều ác nhỏ để tránh điều ác lớn; như bác sĩ cắt bỏ một chi thể để tránh cho toàn thể khỏi bị hư hoại. Nhưng Thiên Chúa thông minh giáng phạt để tránh tội lỗi. Cho nên tội lỗi là điều ác hơn hình phạt.
LUẬN GIẢI. Tội lỗi có lý tính của điều ác nhiều hơn là hình phạt; và chẳng những hơn hình phạt khả cảm, hệ tại sự thiếu những điều thiện hữu chất, – nhiều người vẫn hiểu hình phạt như thế; – mà còn hơn cả hình phạt nói chung, bao gồm cả những hình phạt làm mất ân sủng và vinh quang. Đó là vì hai lý do:
Một là, vì do điều ác của tội mà ai đó trở thành ác nhân, chứ không do điều ác của hình phạt, theo lời Dionysius (cap.4) De Div. Nom.: không phải bị phạt, nhưng làm cho mình đáng phạt mới là điều ác. Sở dĩ như thế là vì điều thiện đơn thuần hệ tại hiện thể chứ không hệ tại tiềm thể, mà hiện thể cuối cùng là hoạt động, hay sử dụng bất cứ vật gì đã chiếm hữu. nhưng chúng ta lấy ý muốn để sử dụng mọi vật. Thành thử người với thiện ý sử dụng cho đúng đắn các vật đã chiếm hữu, thì được gọi là thiện nhân; với ác ý thì được gọi là ác nhân. Thực vậy, người có ác ý có thể sử dụng cách bất chính cả điều thiện mà hắn có: như nhà biết văn phạm lại ăn nói vụng về. Vậy, vì tội lỗi hệ tại hành vi xáo trộn của ý muốn, còn hình phạt thì hệ tại thiếu hụt vật nào trong những vật mà ý muốn sử dụng; cho nên tội lỗi có lý tính của điều ác hơn là hình phạt.
Hai là, Thiên Chúa là tác giả điều ác của hình phạt, chứ không phải của tội lỗi. Sở dĩ như thế là vì điều ác của hình phạt làm cho thiếu điều thiện của vật thụ tạo: chẳng kỳ hiểu điều thiện của thụ tạo là điều thụ tạo nào đó, – như sự mù loà làm cho mất thị lực, – hay hiểu là điều thiện tự hữu, như vì mất thị kiến Thiên Chúa mà mất điều thiện tự hữu của vật thụ tạo. Nhưng nói đúng ra điều ác thì đối lập với chính điều thiện tự hữu: nó tương phản với việc chu toàn ý muốn Thiên Chúa và với đức mến thần linh, nhờ đó điều thiện của Thiên Chúa được yêu mến trong chính điều thiện ấy; chứ không như được thông dự bởi vật thụ tạo. Vì thế, hiển nhiên là tội lỗi có lý tính của điều ác hơn hình phạt.
GIẢI ĐÁP.
1. Dẫu tội lỗi đưa đến hình phạt, như công trạng đưa đến phần thưởng, nhưng ta không chủ ý phạm tội để bị phạt như lập công để được thưởng: trái lại, hình phạt được du nhập để ta tránh tội lỗi. Và như vậy, tội lỗi thì ác hơn là hình phạt.
2. Trật tự của hoạt động, bị tội lỗi cất mất, thì hoàn bị hơn điều thiện của tác nhân, là điều thiện bị hình phạt cất mất; vì điều thiện này là sự hoàn bị đệ nhị, còn điều thiện kia là sự hoàn bị đệ nhất.
3. Không thể so sánh tội lỗi với hình phạt như mục đích và trật tự đưa tới đích: vì cả hai đều có thể bị cất mất cách nào đó bởi tội lỗi và bởi hình phạt. Nhưng bởi hình phạt, vì chính con người phải xa lìa mục đích và trật tự đưa tới đích; còn bởi tội lỗi, vì sự thiếu hụt mục đích và trật tự tới đích này thì thuộc về hành động tội lỗi, là hành động không hướng về mục đích mà nó phải hướng tới.
