Trong vũ trụ bao la và dòng chảy bất tận của thời gian, một câu hỏi luôn khơi gợi sự tò mò của nhân loại: Liệu thế giới này có một điểm khởi đầu, hay nó đã tồn tại từ vĩnh cửu? Trong Phần I, Vấn đề 46 của tác phẩm kinh điển Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica), Thánh Thomas Aquinas đã trực diện đối mặt với bí ẩn nguyên thủy này. Đây không chỉ là một cuộc tranh luận thuần túy về vũ trụ học, mà là một điểm giao thoa tinh tế giữa đức tin và lý trí.
Tại Vấn đề 46, Aquinas mổ xẻ sự khởi đầu của tạo vật thông qua các bài viết cốt lõi. Ông đưa ra một lập luận đầy thách thức ngay cả với các triết gia vĩ đại như Aristotle: lý trí tự nhiên của con người không thể chứng minh một cách tuyệt đối rằng thế giới có điểm bắt đầu. Đối với Aquinas, việc tin rằng vũ trụ được sáng tạo từ cõi hư vô và “trong sự khởi đầu của thời gian” hoàn toàn là một chân lý của đức tin, vượt ra ngoài những khuôn khổ chứng minh của triết học thông thường.
Qua việc phân tích Vấn đề này, chúng ta sẽ thấy được sự tài tình của Aquinas trong việc bảo vệ nền tảng thần học mà vẫn tôn trọng giới hạn của lý trí. Vấn đề này sẽ dẫn dắt chúng ta đi sâu vào từng lập luận của ngài, mở ra một góc nhìn đa chiều về khái niệm thời gian, sự sáng tạo và cội nguồn của vạn vật.
Ba mục được nghiên cứu trong vấn đề này là:
1. Phải chăng các vật thụ tạo vẫn hằng hữu?
2. Phải chăng việc các vật thụ tạo đã bắt đầu là một tín khoản?
3. Phải hiểu mệnh đề “từ nguyên khởi Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất” như thế nào?
MỤC 1: Phải chăng toàn thể các vật thụ tạo luôn luôn hằng hữu?
NGHI VẤN. Hình như toàn thể các vật thụ tạo, mệnh danh là vũ trụ không bắt đầu hiện hữu, nhưng vẫn hằng cửu.
1. Phàm chi đã bắt đầu hiện hữu, thì trước khi hiện hữu phải là khả hữu: chẳng vậy nó không thể được hình thành. Nếu vũ trụ đã bắt đầu hiện hữu, thì trước khi bắt đầu nó đã phải có thể hiện hữu. Nhưng điều khả hữu là chất thể đang ở trong tiềm thể để hiện hữu, được thể hiện bằng mô thể, và để không hiện hữu, được thể hiện bằng sự khuyết mất mô thể. Vậy nếu vũ trụ đã bắt đầu hiện hữu, thì trước vũ trụ đã có chất thể. Nhưng chất thể hiện hữu là nhờ mô thể: chất thể của vũ trụ cùng với mô thể của nó làm thành vũ trụ. Cho nên vũ trụ đã có trước khi bắt đầu có: đó là điều không thể có.
2. Vả lại, không chỉ có sức để hằng cửu, mà lúc thì hiện hữu lúc thì không: vì sức hiện hữu của một vật kéo dài bao lâu thì vật ấy tồn tại bấy lâu. Nhưng mọi vật bất hoại thì có sức để hằng cửu, chứ không phải để tồn tại trong một thời gian hạn định của kỳ gian. Cho nên không vật bất hoại nào có thể “lúc thì hiện hữu lúc thì không”. Nhưng mọi vật bắt đầu hiện hữu đều có lúc hiện hữu có lúc không. Cho nên không một vật bất hoại nào đã bắt đầu hiện hữu. Mà trong vũ trụ có vô số vật bất hoại, như các thiên thể và những bản thể có lý trí. Cho nên vũ trụ đã không bắt đầu hiện hữu.
3. Vả lại, chả vật không được sinh ra nào bắt đầu hiện hữu. Mà trong sách I Phys. nhà Hiền triết chứng minh rằng, chất thể thì không được sinh ra; và trong quyển I De Caelo et Mundo ông cũng chứng minh rằng, bầu trời thì không được sinh ra. Cho nên toàn thể các vật không bắt đầu hiện hữu.
4. Vả lại, chân không là nơi hiện không có vật thể nhưng có thể có. Vậy nếu vũ trụ đã bắt đầu hiện hữu, ắt tại nơi hiện nay có vật thể của vũ trụ, thì trước đây không có vật thể nào cả nhưng có thể có: chẳng vậy hiện nay tại nơi ấy cũng chẳng có. Cho nên trước khi có vũ trụ đã có chân không: đó là điều không thể có.
5. Vả lại, không chi lại bắt đầu được chuyển biến, đừng kể hiện trạng của biến căn, hoặc của vật khả biến, đã khác với tiền trạng. Nhưng phàm chi hiện nay khác với trước đây tức là được chuyển biến. Thành thử trước mọi chuyển biến, được bắt đầu lại, đã có một chuyển biến nào đó. Cho nên sự chuyển biến vẫn hằng cửu. Nhiên hậu cả điều khả biến cũng vậy: vì sự chuyển biến chỉ trụ nơi điều khả biến.
6. Vả lại, mọi biến căn hoặc là tự nhiên hay là tự ý. Nhưng trong hai biến căn đó không biến căn nào bắt đầu chuyển biến mà không do một chuyển biến trước. Thực vậy, thiên nhiên vẫn luôn luôn hoạt động cùng một cách. Cho nên nếu không có một sự chuyển biến nào trước, hoặc nơi bản tính của biến căn hoặc nơi vật khả biến, thì không một chuyển biến nào, trước đây chưa có, bắt đầu lại nơi biến căn tự nhiên. Còn ý muốn, dù không tự thay đổi, vẫn có thể trì hoãn việc thực hiện điều nó đã dự tính: nhưng điều đó chỉ thể hiện do một sự thay đổi tưởng tượng nào đó, ít là về phía thời gian. Thí dụ một người muốn dựng nhà vào ngày mai chứ không phải hôm nay, hẳn chờ đợi điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai chứ không phải hôm nay; ít là chờ cho ngày hôm nay qua đi, và cho ngày mai kịp đến: điều đó không thể có nếu không có sự chuyển biến, vì thời gian là con số của sự chuyển động. Thành thử trước mọi chuyển biến, được bắt đầu lại, đã có một chuyển biến khác. Và như vậy, phải kết luận như nghi vấn trên.
7. Vả lại, phàm chi luôn luôn ở chỗ khởi đầu và luôn luôn ở chỗ kết thúc thì không thể khởi đầu cũng không thể kết thúc: vì điều khởi đầu thì không ở chỗ kết thúc, và điều kết thúc thì không ở chỗ khởi đầu. Nhưng thời gian thì luôn luôn ở chỗ khởi đầu và luôn luôn ở chỗ kết thúc: vì thời gian không phải chi khác, mà chỉ là “hiện giờ”, tức là kết thúc của quá khứ và khởi đầu của tương lai. Cho nên thời gian không thể khởi đầu của tương lai. Cho nên thời gian không thể khởi đầu cũng không thể chấm dứt. Thành thử sự chuyển biến cũng vậy, vì con số của chuyển biến là thời gian.
8. Vả lại, Thiên Chúa có trước vũ trụ hoặc về bản tính mà thôi, hoặc cả về kỳ gian. Nếu chỉ có trước về bản tính thì vũ trụ cũng phải hiện hữu từ hằng cửu, vì Thiên Chúa hiện hữu từ hằng cửu. Nhưng nếu Thiên Chúa có trước về kỳ gian, thì trước khi có vũ trụ đã có thời gian, vì trước và sau về kỳ gian cấu thành thời gian. Đó là điều không thể chấp nhận.
9. Vả lại, một khi đã có căn nguyên đầy đủ là phải có công hiệu, căn nguyên không phát sinh công hiệu là căn nguyên khiếm khuyết. Nhưng Thiên Chúa là căn nguyên đầy đủ của vũ trụ: là căn nguyên cứu cánh vì sự thiện hảo của Người; là kiểu mẫu, vì sự thông tuệ của Người; là tác nhân vì quyền năng của Người, như đã thấy trên đây (vđ.44, m.1.3.4). Vậy, vì Thiên Chúa hiện hữu từ hằng cửu, nên vũ trụ cũng đã hiện hữu từ hằng cửu.
10. Vả lại, hễ hoạt động đã hằng cửu thì công hiệu cũng vậy. Nhưng hoạt động của Thiên Chúa là chính bản thể của Người, là bản thể hằng cửu. Cho nên vũ trụ cũng hằng cửu.
NHƯNG. Trong Tin Mừng theo thánh Gioan (17,5) có chép: “Lạy Cha, xin Cha tôn vinh Con bên Cha, với vinh quang mà Con đã có trước khi có vũ trụ”; và sách Châm Ngôn (8,22): Đức Chúa đã chiếm hữu tôi từ khởi đầu các đường lối của Ngài, trước khi tác thành bất cứ vật gì từ sơ khởi.
LUẬN GIẢI. Ngoài Thiên Chúa không chi đã hiện hữu từ hằng cửu. Và không phải là không thể chấp nhận điều đó. Quả thực, trên đây (vđ.19, m.4) đã chứng minh rằng: ý muốn của Thiên Chúa là căn nguyên vạn vật. Như vậy, mỗi vật chỉ thiết yếu phải hiện hữu như Thiên Chúa thiết yếu muốn nó hiện hữu: sự thiết yếu của công hiệu lệ thuộc vào sự thiết yếu của căn nguyên, như nhà Hiền triết đã nói trong quyển V Mephys… Nhưng trên đây (vđ.19, m.3) đã chứng minh rằng: nói cách tuyệt đối, Thiên Chúa không thiết yếu ưa muốn chi hết ngoài chính mình Người. Cho nên Thiên Chúa không thiết yếu muốn rằng, vũ trụ phải hiện hữu từ hằng cửu. Nhưng Thiên Chúa muốn vũ trụ hiện hữu bao lâu thì nó hiện hữu bấy lâu: vì việc hiện hữu của vũ trụ lệ thuộc vào ý muốn của Thiên Chúa như vào căn nguyên. Cho nên không thiết yếu là vũ trụ vẫn luôn luôn hiện hữu. Thành thử ta cũng không thể chứng minh điều đó.
Những lý lẽ mà Aristote viện dẫn không phải là những lý chứng đơn thuần, mà chỉ là những “lẽ đối nhân”, nhằm phi bác những lý lẽ của các vị tiền bối, các vị đã theo những đường lối không thể chấp nhận để quả quyết rằng: vũ trụ đã được bắt đầu.
Đó là điều hiển nhiên vì ba điểm. Trước hết, vì trong cả cuốn VIII Phys. cũng như cuốn I De Caelo, để bắt đầu ông đã trưng ra mấy ý kiến, như của Anaxagoras, Empedocles và Plato, và ông đã phi bác họ bằng những lý lẽ đầu mâu thuẫn đó. – Thứ đến, vì mỗi khi bàn về vấn đề này, ông nại đến chứng tá của những cổ nhân: chứng ta không có giá trị chứng minh, mà chỉ có giá trị cái nhiên để khuyến khích. – Thứ ba, vì ông nói rõ trong quyển I Topic. rằng: có mấy vấn đề biện chứng mà chúng ta không có giải đáp hữu lý, như vấn đề: “phải chăng vũ trụ vẫn hằng cửu”.
GIẢI ĐÁP.
1. Trước khi hiện hữu thì vũ trụ đã khả dĩ hiện hữu, không phải theo tiềm năng thụ động, là chất thể; nhưng theo tiềm năng chủ động của Thiên Chúa. Hoặc khi nói điều gì là khả dĩ tuyệt đối thì không phải theo tương quan với quyền năng nào đó, mà chỉ theo tương quan giữa những hạn từ không mâu thuẫn nhau; theo ý nghĩa này, điều khả dĩ thì tương phản với bất khả dĩ, như đã được chứng tỏ trong quyển V Metaphys.
2. Phàm chi có sức để luôn luôn hiện hữu, thì từ khi có sức đó nó không còn lúc có lúc không; nhưng trước khi có sức ấy thì nó chưa hiện hữu. Cho nên lý lẽ, mà Aristote đưa ra trong quyển I De Caelo, không chứng minh một cách tuyệt đối rằng, những vật bất hoại thì không bắt đầu hiện hữu, mà chỉ chứng minh rằng, không bắt đầu hiện hữu theo cách thức tự nhiên, mà chỉ không bắt đầu hiện hữu theo cách thức của những vật được sinh ra và bị huỷ hoại.
3. Trong quyển I Phys. Aristốt đã chứng tỏ rằng, “chất thể thì không được sinh ra”, vì nó không có chủ thể, nhờ đó nó hiện hữu. Trong quyển I De Caelo et Mundo, ông cũng chứng minh là bầu trời không được sinh ra vì nó không có điều tương phản, từ đó nó được sinh ra. Do cả hai lý chứng ấy ta chỉ có thể kết luận rằng, chất thể và bầu trời không khởi đầu bởi sự sinh sản, như một số giữa, chủ trương, nhất là về bầu trời. Nhưng chúng ta chủ trương rằng cả chất thể lẫn bầu trời đã được sản xuất ra bằng việc tạo thành để hiện hữu, như đã nói trên (vđ.45, m.2).
4. Định nghĩa chân không là “nơi không có chi cả” thì chưa đủ; phải định nghĩa là: “không gian có thể chứa đựng vật thể mà không thực sự chứa đựng”, như Aristote chứng tỏ trong quyển IV Phys.. Phần chúng ta, chúng ta chủ trương rằng: không có nơi chốn cũng chẳng có không gian trước khi có vũ trụ.
5. Biến căn đệ nhất thì luôn luôn bất biến; còn vật khả biến đệ nhất không luôn luôn y nguyên, vì nó đã bắt đầu hiện hữu, tuy rằng trước đây đã không hiện hữu. Nhưng điều đó không thể hiện bằng sự biến đổi, mà bằng việc tạo thành, mà tạo thành thì không phải là biến đổi, như đã nói ở trên (vđ.45, m.2, gđ.2). Bởi đó hiển nhiên là lý lẽ mà Aristote đưa ra trong quyển VIII Phys. chỉ có giá trị chống với những người chủ trương là có những vật khả biến hằng cửu, nhưng không công nhận sự chuyển biến hằng cửu; ý kiến của Anaxagorae và Empedoclis chứng tỏ điều đó. Còn chúng ta, chúng ta chủ trương rằng, từ khi những vật khả biến bắt đầu hiện hữu thì luôn luôn có sự biến đổi.
6. Tác nhân đệ nhất là tác nhân hữu ý. Mặc dầu tác nhân này có ý muốn hằng cửu để sản xuất ra công hiệu nào đó, nhưng đã không sản xuất công hiệu hằng cửu. Cũng không cần giả định một sự biến chuyển nào, dù bằng sự tưởng tượng về thời gian. Thực vậy, phải hiểu một cách khác nhau về tác nhân đặc thù: – tác nhân này giả định một vật có sẵn để sản xuất ra một vật khác, – và về tác nhân phổ quát – sản xuất ra toàn thể hữu thể. Như tác nhân đặc thù sản xuất ra mô thể, và giả định một chất thể, cho nên phải du nhập một mô thể cân xứng vào chất thể nhất định. Thành thử quả là hữu lý khi cho rằng tác nhân ấy du nhập mô thể vào chất thể này chứ không phải chất thể kia, vì chất thể này thì khác với chất thể kia. Nhưng không hữu lý khi nghĩ như thế về Thiên Chúa, là Đấng sản xuất cả mô thể lẫn chất thể một trật. Vả lại cũng hữu lý khi cho rằng Thiên Chúa sản xuất chất thể phù hợp với mô thể và với mục đích. – Tác nhân đặc thù giả định thời gian, cũng như giả định chất thể. Do đó, quả hữu lý khi ta cho là tác nhân ấy hoạt động vào thời gian sau chứ không phải vào thời gian trước, theo sự tưởng tượng về sự kế tiếp của thời gian trước và sau. Nhưng nơi tác nhân phổ quát, tác thành cả các vật lẫn thời gian, ta không phải nghĩ đến việc hiện giờ Người hoạt động, chứ không phải trước đây, theo sự tưởng tượng ra thời gian này sau thời gian kia, như thể thời gian được giả định trước hoạt động của Người: nhưng phải suy rằng Người muốn ban cho công hiệu bao nhiêu thời gian thì ban, sao cho thích hợp để giãi bày quyền năng của Người. Thực vậy, nếu vũ trụ không hằng cửu thì sẽ giúp ta nhận biết quyền năng thần linh của Đấng Tạo Thành một cách rõ rệt hơn là nếu nó hằng cửu: vì phàm chi không hằng cửu thì hiển nhiên là phải có căn nguyên; nhưng không hiển nhiên như thế đối với vật luôn luôn hiện hữu.
7. Như nhà Hiền triết nói trong quyển IV Phys.: Trước và sau trong thời gian là tuỳ ở trước và sau trong sự di chuyển. Do đó phải hiểu khởi đầu và tận cùng thời gian như trong di chuyển. Nhưng giả dụ có sự hằng cửu về sự di chuyển, ắt hẳn mỗi điểm trong sự di chuyển phải được coi là khởi đầu và tận cùng của sự di chuyển: nhưng không tất yếu như thế nếu sự di chuyển có khởi đầu. Và điều đó cũng có giá trị đối cái hiện giờ của thời gian. Như vậy, hiển nhiên là lý tính của giây lát hiện giờ, là khởi đầu và tận cùng của thời gian, thì giả định sự hằng cửu của thời gian và của sự di chuyển. Bởi đó, trong quyển VIII Phys., Aristote đã đưa ra lý lẽ đó để chống với những người công nhận sự hằng cửu của thời gian, nhưng chối sự hằng cửu của sự di chuyển.
8. Thiên Chúa có trước vũ trụ về kỳ gian. Nhưng hạn từ trước không biểu thị tính cách trước của thời gian, mà của sự hằng cửu. Hoặc phải nói là nó biểu thị thời gian giả tưởng, không có thực: như khi ta nói: ở bên trên bầu trời không có chi cả, thì hạn từ bên trên biểu thị một nơi chốn giả tưởng mà thôi, nghĩa là có thể tưởng tượng là có những chiều kích khác chồng chập lên những chiều kích của thiên thể.
9. Như công hiệu của căn nguyên “hoạt động theo bản tính” phát xuất từ căn nguyên ấy theo mô thể của nó, thì công hiệu của tác nhân “hoạt động theo ý muốn” cũng phát xuất theo mô biểu do tác nhân ấy quan niệm và quy định trước, như đã chứng minh trên đây (vđ.19, m.4; vđ.41, m.2). Cho nên mặc dầu từ hằng cửu Thiên Chúa là căn nguyên sung mãn của vũ trụ, nhưng không tất nhiên là vũ trụ đã được Người sản xuất cách nào khác, không phù hợp với kế hoạch mà ý muốn của Người đã định sẵn; nghĩa là vũ trụ đã nhận được hiện hữu sau khi đã không hiện hữu, để tuyên xưng vị Trước tác của mình cách minh bạch hơn.
10. Hễ đã có hoạt động là có công hiệu theo đòi hỏi của mô thể, là nguyên khởi của hoạt động. Nhưng nơi tác nhân hữu ý, điều đã quan niệm và quyết định được coi như mô biểu, như nguyên khởi của hoạt động. Cho nên công hiệu do hoạt động hằng cửu của Thiên Chúa không tất nhiên phải hằng cửu: nhưng Thiên Chúa muốn thế nào là công hiệu sẽ như thế, nghĩa là đã được hiện hữu sau khi không hiện hữu.
MỤC 2: Phải chăng việc vũ trụ đã bắt đầu là một tín khoản?
NGHI VẤN. Hình như việc vũ trụ đã bắt đầu không phải là một tín khoản, nhưng là một kết luận ta có thể chứng minh.
1. Phàm chi được tác thành đều có khởi đầu về kỳ gian. Nhưng có thể chứng minh rằng Thiên Chúa là căn nguyên tác thành của vũ trụ: đó là điều những triết gia tên tuổi đã công nhận. Cho nên ta có thể chứng minh là vũ trụ đã khởi đầu hiện hữu.
2. Nếu nhất thiết phải công nhận là vũ trụ đã được Thiên Chúa tác thành, thì hoặc là đã được tác thành từ hư vô, hay từ một vật nào đó. Nhưng không từ một vật nào cả: vì như thế chất thể của vũ trụ sẽ có trước vũ trụ: để phi bác ý kiến đó Aristote đã đưa ran h, lý lẽ (xc. M.1) có giá trị. Cho nên phải nói rằng, vũ trụ được tác thành từ hư vô. Như thế nó đã hiện hữu sau khi chưa hiện hữu. Cho nên nó phải khởi đầu hiện hữu.
3. Phàm là tác nhân theo trí tuệ thì đều hoạt động với một nguyên khởi nào đó, như thấy ở các nghệ phẩm. Mà Thiên Chúa là tác nhân theo trí tuệ. Cho nên Người đã hành động với một nguyên khởi nào đó. Cho nên vũ trụ, là công hiệu của Thiên Chúa, đã không luôn luôn hiện hữu.
4. Hiển nhiên là một số nghệ thuật và dân cư của một số vùng đã được khởi sự vào những thời kỳ nhất định. Nhưng hẳn không có sự kiện đó, nếu vũ trụ đã luôn luôn hiện hữu. Cho nên hiển nhiên là vũ trụ đã không luôn luôn hiện hữu.
5. Chắc chắn là không có chi ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng nếu vũ trụ đã luôn luôn hiện hữu thì nó sẽ ngang hàng với Thiên Chúa về kỳ gian. Cho nên chắc hẳn là vũ trụ đã không luôn luôn hiện hữu.
6. Vả lại, nếu vũ trụ đã luôn luôn hiện hữu, thì vô số ngày đã trôi qua trước ngày hôm nay. Nhưng những gì là vô tận thì không chi có thể vượt qua. Thành thử không bao giờ đạt tới ngày hôm nay, hiển nhiên đó là điều sai lầm.
7. Vả lại, nếu vũ trụ đã hiện hữu từ hằng cửu, thì việc sinh sản cũng đã hiện hữu từ hằng cửu. Cho nên người nọ đã được sinh ra bởi người khác, và cứ thế đến vô tận. Nhưng cha là tác căn của con, như Aristote đã nói trong quyển II Phys.. Cho nên có một chuỗi vô tận những tác căn: đó là điều nhà Hiền triết đã phi bác trong quyển II Metaphys.
8. Vả lại, nếu vũ trụ và sự sinh sản vẫn luôn luôn hiện hữu, thì nhiều con người vô tận đã qua đi. Nhưng linh hồn con người thì bất hoại; cho nên hiện giờ nhiều vong linh vô tận phải thực sự hiện hữu: đó là điều không thể có. Cho nên ta có thể biết bằng khoa học chắc chắn rằng: vũ trụ đã bắt đầu, chứ không phải công nhận điều đó bằng nguyên đức tin.
NHƯNG. Ta không thể chứng minh các tín khoản được: vì đức tin nhằm vào những điều ta không thấy, như thánh tông đồ đã viết (Dt 11,1). Mà Thiên Chúa là Đấng Tạo thành vũ trụ, cũng như việc vũ trụ đã khởi đầu hiện hữu là tín khoản. Thực vậy, chúng ta đọc trong kinh Tín Kính (Nicea): Tôi tin kính một tch… – Ngoài ra, thánh Gregorius cũng nói trong bài giảng I (Ezec.) rằng: theo tư cách sứ ngôn, Môsê đã nói về quá khứ rằng: Từ nguyên khởi Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất; điều đó dạy cho biết sự mới mẻ của vũ trụ. Cho nên chỉ nhờ mạc khải mà sự mới mẻ về vũ trụ được truyền đạt đi. Thành thử ta không thể chứng minh điều đó.
LUẬN GIẢI. Chỉ nhờ đức tin mà ta công nhận rằng vũ trụ không luôn luôn hiện hữu, chứ không thể viện lý theo lối chứng minh, như đã nói ở trên về mặc nhiên Thiên Chúa Tam Vị (vđ.32, m.1). Sở dĩ như thế là vì, ta không thể căn cứ vào vũ trụ để chứng minh sự mới mẻ của nó. Thực vậy, nguyên lý để chứng minh là “yếu tính” của mỗi vật. Nhưng bất cứ vật gì, xét theo lý tính của loại, đều được trừu xuất khỏi không gian và thời gian, vì thế ta gọi những điều “phổ quát là những điều hiện hữu khắp nơi và luôn mãi”. Cho nên ta không thể chứng tỏ rằng con người, hay bầu trời, hoặc tảng đá không luôn luôn hiện hữu. – Cũng chẳng có thể căn cứ vào tác nhân “hoạt động theo ý muốn”. Thực vậy, không thể nào nhờ lý trí dò xét ý muốn của Thiên Chúa, đừng kể đối với những điều mà Thiên Chúa phải muốn cách tất yếu tuyệt đối: nhưng những điều Thiên Chúa muốn đối với tạo vật thì không phải thế, như đã nói trên (vđ.19, m.3).
Tuy nhiên ý muốn của Thiên Chúa có thể được giãi bày cho con người bằng mạc khải, là điểm tựa của đức tin. Cho nên việc vũ trụ đã khởi đầu là điều khả tín, chứ không phải điều ta có thể chứng minh hay nhận biết. – Đó là điều hữu ích cần lưu ý, kẻo có ai cả gan chứng minh điều thuộc đức tin lại viện dẫn những lý lẽ bất tất, làm cớ chon h, người ngoại giáo chế giễu, bởi họ tưởng rằng những lý lẽ đó mà chúng ta tin nhận những điều thuộc đức tin.
GIẢI ĐÁP.
1. Như thánh Augustinô đã nói trong quyển XI De Civ. Dei. rằng: giữa những người chủ trương sự hằng cửu của vũ trụ có hai lập trường khác nhau. Một số người cho rằng: bản thể của vũ trụ không phát xuất từ Thiên Chúa. Đây là sự sai lầm bất khả dung, và vì thế cần phải phi bác. Một số người khác chủ trương rằng vũ trụ thì hằng cửu, nhưng đã do Thiên Chúa tác thành. “Họ không muốn” vũ trụ “có khởi đầu về thời gian, nhưng có khởi đầu về tạo thành”, như thể nó vẫn luôn luôn được tác thành, một cách hầu như không thể hiểu. Họ đã cho thấy họ hiểu điều đó như thánh Augustinô nói trong quyển X De Civ. Dei.. Họ nói rằng: “Như nếu bàn chân của ai từ hằng cửu vẫn dính bụi, hẳn sẽ luôn luôn ghi dấu vết, dấu vết của người bước qua, không ai hồ nghi, thì vũ trụ cũng đã luôn luôn hiện hữu, vì Đấng tác thành nó vẫn luôn luôn hiện hữu”. Để hiểu điều đó nên suy rằng: tác căn hoạt động bằng chuyển biến, thì nhất thiết phải có trước công hiệu của mình về thời gian, vì công hiệu chỉ hiện hữu khi hoạt động được hoàn tất, còn mọi tác nhân phải là nguyên khởi của hoạt động. Nhưng nếu là hoạt động chớp nhoáng, chứ không phải tuần tự thì tác căn không nhất thiết phải có trước công hiệu về thời gian, như thấy trong sự soi sáng. Bởi đó họ nói: nếu Thiên Chúa là căn nguyên chủ động của vũ trụ thì không nhất thiết là Người phải có trước vũ trụ về kỳ gian: vì việc tạo thành, phát xuất ra vũ trụ, không phải là sự biến đổi tuần tự, như đã nói trên (vđ.45, m.2, gđ.3).
2. Những người chủ trương vũ trụ thì hằng cửu nói rằng, vũ trụ đã được Thiên Chúa tác thành từ hư vô, không phải là được tác thành sau hư vô, theo như quan niệm của chúng ta về tạo thành; mà là không được tác thành từ chi hết. Và như thế, một số trong những vị ấy không tẩy chay hạn từ tạo thành, như Avicenna chứng tỏ trong cuốn Metaphysica.
3. Lý lẽ đó là của Anaxagorae, được ghi trong quyển III Phys.. Nhưng với lý lẽ đó ta chỉ có thể kết luận cách tất yếu về trí tuệ nào bàn bạc để nghiên cứu xem nên làm cái gì, điều đó cũng giống như sự chuyển biến. Nhưng trí khôn như thế là của con người, chứ không phải của Thiên Chúa, như đã chứng minh trên đây (vđ.14, m.7).
4. Những người công nhận sự hằng cửu của vũ trụ, chủ trương rằng có miền đất đã thay đổi nhiều lần vô kể từ trạng thái bất khả cư đến khả cư, và ngược lại. Và họ cũng chủ trương rằng, vì những hư hoại và những tai hoạ, các nghệ thuật đã được phát minh ra nhiều lần vô kể, rồi lại bị hư hoại. Cho nên Aristote đã nói trong sách Meteor. rằng: do những thay đổi đặc thù như thế mà công nhận ý kiến về sự mới mẻ của toàn thể vũ trụ thì quả thực là nực cười.
5. Cho dù đã luôn luôn hiện hữu, vũ trụ cũng không thể hằng cửu như Thiên Chúa, như Boetius nói ở cuối cuốn De Consol., vì hiện hữu của Thiên Chúa là hiện hữu toàn thể một trật, không kế tiếp: còn vũ trụ thì không hiện hữu như thế.
6. Mọi thứ kinh qua đều thể hiện từ một khởi điểm đến một đích điểm. Vậy dù ta lấy bất cứ ngày đã qua nào làm mốc, thì từ ngày ấy đến hôm nay con số các ngày vẫn hữu hạn và có thể bị vượt qua. Trái lại, nghi vấn thì giả định rằng giữa hai cực hạn, có vô số những khoảng trung gian.
7. Nếu bàn về những tác căn cốt yếu lệ thuộc nhau thì không thể có sự diễn tiến đến vô tận, đến độ những căn nguyên cốt yếu cần thiết để phát sinh một công hiệu, phải tang thêm đến vô tận: như tảng đá được cây gậy lay động, cây gậy được bàn tay lay động, và cứ thế đến vô tận. Nhưng không phải là không thể diễn tiến đến vô tận, nếu bàn về những tác căn lệ thuộc nhau cách ngẫu trừ: điều này xảy ra khi mọi căn nguyên, được tang thêm đến vô tận, vẫn đóng một căn nguyên duy nhất, và chỉ tang thêm cách tình cờ. Chẳng hạn người thợ dùng nhiều chiếc búa cách ngẫu trừ, vì hết chiếc búa nọ đến chiếc búa kia bị gẫy. Cho nên tình cờ mà chiếc búa này, hoạt động sau hoạt động của chiếc búa kia. Tương tự như thế, tình cờ mà người này, xét như tác sinh, được sinh ra bởi người khác; tác sinh theo tư cách là con người, chứ không theo tư cách là con của người khác; thực vậy, mọi người tác sinh đều có cũng một địa vị trong các tác căn, ấy là địa vị của một người tác sinh đặc thù. Cho nên việc con người được sinh ra bởi người khác, và cứ thế đến vô tận, không phải là điều không thể có. Nhưng điều không thể có, nếu việc sinh sản của người này lệ thuộc vào người khác, vào một vật thể nguyên sơ, vào mặt trời, và cứ thế cứ thế đến vô tận.
8. Những người chủ trương sự hằng cửu của vũ trụ tránh né lý lẽ này nhiều cách. Thực vậy, một số người không coi nhiều linh hồn vô tận hiện hữu trong hiện thể là không thể có, như thấy ở cuốn Metaphys. của Algazelis cho rằng, đây là thứ vô tận ngẫu trừ. Nhưng điều này đã bị phi bác trên đây (vđ.7, m.4). Một số người quả quyết rằng linh hồn bị huỷ hoại với thân thể. Một số người chủ trương rằng trong tất cả các linh hồn chỉ có một linh hồn tồn tại. Thánh Augustinô kể lại rằng, một số người khác đã vì thế mà chủ trương sự luân hồi của linh hồn; nghĩa là các linh hồn lìa khỏi các thân xác, sau những chu kỳ thời gian nhất định, sẽ trở lại với các thi hài. Dưới đây (vđ.75, m.6; vđ.76, m.2; vđ.118, m.6) chúng tôi sẽ bàn về tất cả các thuyết ấy. – Nhưng phải lưu ý rằng, đây chỉ là nghi vấn đặc thù. Cho nên ai đó có thể chủ trương sự hằng cửu vũ trụ, hay ít ra của một vật thụ tạo nào đó, như của thiên thần, nhưng không phải của con người. Song ở đây chúng tôi bàn cách tổng quát xem: có vật thụ tạo nào hiện hữu từ hằng cửu chăng?
MỤC 3: Việc tạo thành vạn vật có thể hiện lúc khởi đầu thời gian chăng?
NGHI VẤN. Hình như việc tạo thành vạn vật không thể hiện vào lúc khởi đầu thời gian.
1. Phàm chi không ở trong thời gian thì không ở trong quãng nào của thời gian. Mà việc tạo thành vạn vật không thể hiện trong thời gian: vì nhờ việc tạo thành mà bản thể của các vật được sản xuất ra trong hiện hữu; nhưng thời gian không đo lường bản thể của các vật, nhất là của các vật vô chất. Cho nên việc tạo thành không thể hiện lúc khởi đầu thời gian.
2. Vả lại, nhà Hiền triết đã chứng minh rằng: phàm chi được hình thành thì bấy giờ được hình thành, như thế phàm chi được hình thành đều có trước và sau. Nhưng lúc khởi đầu thời gian, vì là điều bất khả phân, thì không có trước và sau. Cho nên hình như vạn vật không được tạo thành lúc khởi đầu thời gian: vì được tạo thành cũng là được hình thành.
3. Vả lại, chính thời gian cũng được tạo thành. Nhưng không thể được tạo thành lúc khởi đầu thời gian: vì thời gian thì khả phân, còn khởi đầu thời gian thì bất khả phân. Cho nên việc tạo thành không được thực hiện lúc khởi đầu thời gian.
NHƯNG. Sách Sáng Thế (1,1) viết: Từ nguyên khởi, Thiên Chúa tạo thành trời và đất.
LUẬN GIẢI. Lời sách Sáng Thế (1,1): Từ nguyên khởi, Thiên Chúa tạo thành trời đất, được giải thích ba cách để phi bác ba thứ sai lầm. Quả thực, một số người chủ trương vũ trụ vẫn luôn luôn hiện hữu, và thời gian không có khởi đầu (xc. m.1). Để phi bác điều này thì lời đó được giải thích là: từ nguyên khởi, nghĩa là khởi đầu của thời gian. Nhưng một số người lại chủ trương việc tạo thành có hai khởi đầu, một khởi đầu của những điều thiện và một của những điều ác. Để phi bác điều đó, lời trên được giải thích là: từ nguyên khởi là, từ Chúa Con. Vì như tác căn được biệt ứng cho Chúa Cha vì quyền năng, thì kiểu mẫu cũng được biết ứng cho Chúa Con vì sự thông tuệ, như lời Thánh vịnh (103,24): Chúa hoàn thành tất cả trong sự thông tuệ, như thế ta hiểu Thiên Chúa đã làm ra mọi sự từ nguyên khởi, nghĩa là từ Chúa Con; theo lời thánh tông đồ (Cl 1,16): Trong Người, nghĩa là Chúa Con, muôn vật được tạo thành. Nhưng một số người khác chủ trương Thiên Chúa dùng những tạo vật thiêng liêng để tạo thành những vật hữu chất. Để phi bác điều đó, câu: từ nguyên khởi Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất được giải thích là: trước mọi sự. Quả thực, người ta công nhận bốn thứ được tạo thành một trật là: thiên cung, vật hữu chất (tức là trái đất), thời gian và bản tính thiên thần.
GIẢI ĐÁP.
1. Không nói rằng các vật được tạo thành từ nguyên khởi của thời gian, như thể khởi đầu thời gian là mực thước của việc tạo thành: mà có nghĩa là, trời và đất được tạo thành cùng với thời gian.
2. Câu nói của nhà Hiền triết đó phải hiểu về điều được hình thành bằng biến đổi, hay là cùng tận của biến đổi. Vì trong mọi biến đổi đều phải nhận ra trước và sau, trước bất cứ giây lát nào trong biến đổi nhất định, nghĩa là trong điều được biến đổi và hình thành phải nhận ra cái gì như trước và cái gì như sau nó: vì cái là khởi đầu và là cùng tận của sự biến đổi thì không phải là đang được biến đổi. Vậy việc tạo thành không phải là sự biến đổi cũng không phải cùng tận của sự biến đổi, như đã nói trên (vđ.45, m.2, gđ.3; m.3). Thành thử một vật được tạo thành như thế này, ấy là được tạo thành mà lúc bấy giờ chưa được tạo thành trước.
3. Vật nào cũng chỉ được hình thành theo cách nó hiện hữu. Nhưng ngoài giây lát hiện giờ không chi là hiện hữu của thời gian. Cho nên thời gian chỉ có thể được hình thành theo hiện giờ nào đó; nhưng điều đó không có nghĩa là thời gian hệ tại giây lát thứ nhất đó, mà có nghĩa là thời gian khởi đầu từ giây lát ấy.
