Tiếp đến là tìm hiểu về cách thức vạn vật phát xuất từ nguyên khởi đệ nhất, nghĩa và về việc tạo thành (xc. Vđ.44, dẫn nhập). Về việc tạo thành này sẽ tìm hiểu tám điểm:
1. Tạo thành là gì?
2. Thiên Chúa có thể tạo thành vật gì chăng?
3. Sự tạo thành có phải là một hữu thể nào trong các vật thụ tạo chăng?
4. “Được tạo thành” thuộc về những vật nào?
5. Phải chăng việc tạo thành chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa?
6. Tạo thành là việc chung của Ba Ngôi hay riêng của một Ngôi vị nào?
7. Nơi các vật thụ tạo có dấu vết gì của Thiên Chúa Ba Ngôi chăng?
8. Việc tạo thành có can dự trong những công trình của thiên nhiên và của ý muốn chăng?
MỤC 1: Tạo thành có phải là sản xuất một vật từ hư vô chăng?
NGHI VẤN. Hình như tạo thành không phải là tác thành một vật từ hư vô.
1. Vì Augustinus viết trong cuốn Contra Adversarium Legis et Prophetarum: “Tác thành là sản xuất điều tuyệt nhiên chưa có. Còn tạo thành là thiết lập điều gì bằng cách khai quật từ điều đã có”.
2. Vẻ cao quý của công việc và của chuyển động được thẩm định bằng những chung hạn. Do đó, hoạt động nào đi từ điều thiện đến điều thiện, và từ hữu thể đến hữu thể thì cao nhã hơn hoạt động đi từ hư vô đến vật gì đó. Mà hình như việc tạo thành là việc cao nhã nhất, và là việc đầu tiên trong mọi công việc; nên không khởi diễn từ hư vô đến hữu thể, mà phải từ hữu thể đến hữu thể.
3. Giới từ “từ” hàm súc mối tương quan với căn nguyên nào đó, nhất là với căn nguyên nhất thể, như khi chúng ta nói pho tượng được làm từ đồng. Nhưng “hư vô” không thể là chất liệu của hữu thể, cũng chẳng là căn nguyên của nó cách nào cả. Cho nên tạo thành không phải là tác thành vật gì từ hư vô.
NHƯNG. Về câu: “Từ khởi nguyên Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất” (St 1,1) sách Chú giải viết: tạo thành là tác thành vật gì từ hư vô.
LUẬN GIẢI. Như đã nói trên (vđ.44, m.2), không những phải bàn về sự phát xuất của một vật đặc thù bởi một tác nhân đặc thù, mà còn về sự phát xuất toàn thể hữu thể bởi căn nguyên phổ quát là Thiên Chúa: và chúng ta biểu thị việc phát xuất này bằng hạn từ “tạo thành”. Điều phát xuất theo lối phát xuất đặc thù, thì không được giả định trước sự phát xuất, như khi một người được sinh ra thì trước đó chưa có người ấy, nhưng con người được hình thành từ “vật phi nhân”, và vật trắng từ vật không trắng. Do đó, nếu cứu xét sự phát xuất của toàn thể hữu thể bởi nguyên khởi đệ nhất, thì tuyệt nhiên không hữu thể nào được giả định trước sự phát xuất này. Nhưng “hư vô” và phi hữu thể cũng là một. Vậy, như sự sinh sản của con người được thể hiện từ phi hữu thể, tức là từ “vật phi nhân”, thì việc tạo thành, tức là sự phát xuất của toàn thể hữu thể, cũng từ phi hữu thể, tức là từ hư vô.
GIẢI ĐÁP.
1. Augustinus dùng danh từ “tạo thành” theo dị nghĩa, ấy là coi những chi được cải hoá cho hoàn hảo hơn là “được tạo thành”, như khi nói, vị nào đó “được thăng chức Giám mục”. Ở đây chúng tôi không bàn về việc tạo thành theo nghĩa này, nhưng theo nghĩa đã xác định (ở luận giải).
2. Những biến đổi được xếp loại và có phẩm giá, không do khởi hạn, mà do đích hạn. Cho nên đích hạn của sự biến đổi nào càng cao nhã và càng ưu tiên hơn bao nhiêu thì sự biến đổi ấy càng hoàn bị và ưu tiên hơn bấy nhiêu; dẫu khởi hạn, đối ngược với đích hạn, có khiếm khuyết hơn. Như thế, xét nguyên nó, sự sinh sản thì cao nhã và ưu tiên hơn là sự biến chất, vì mô thể bản thể thì cao nhã hơn mô thể phụ thể; tuy nhiên, sự khuyết phạp về mô thể bản thể, là khởi hạn trong sự sinh sản thì khiếm khuyết hơn là điều đối ngược, là khởi hạn trong sự biến chất. Cũng vậy, sự tạo thành thì hoàn bị và cao nhã hơn sự sinh sản và sự biến chất, vì đích hạn của nó là toàn thể bản thể của một vật. Còn điều được trí khôn coi như là khởi hạn là phi hữu thể tuyệt đối.
3. Khi nói một điều gì được hình thành từ hư vô, thì giới từ “từ” này không biểu thị căn nguyên chất thể, mà chỉ biểu thị thứ tự, như “buổi trưa từ buổi sáng”, nghĩa là “sau buổi sáng thì đến buổi trưa”. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng: giới từ “từ” này có thể hàm súc sự phủ định mà hạn từ “hư vô” biểu thị, hay ngược lại, giới từ được hàm súc trong sự phủ định. Trong trường hợp thứ nhất, thì quyết có thứ tự, và ta biểu thị thứ tự kế tiếp từ phi hữu thể được giả định tới hữu thể. Trái lại, nếu sự phủ định hàm súc giới từ, thì chối không có thứ tự kế tiếp, và như thế sẽ có nghĩa là “vật này được hình thành từ hư vô”, nghĩa là “không được hình thành từ chi hết”. Như khi nói: “Người này nói về hư vô”, vì không nói về điều gì hết. Vậy, nói điều gì được làm ra từ hư vô, thì trong cả hai cách câu nói ấy đều đúng. Nhưng trong cách thứ nhất, giới từ “từ” biểu thị thứ tự, như vừa nói; trong cách thứ hai, thì hàm súc tương quan với căn nguyên chất thể, ấy là chối không có căn nguyên ấy.
MỤC 2: Thiên Chúa có thể tạo thành một vật nào chăng?
NGHI VẤN. Hình như Thiên Chúa không thể tạo thành vật nào cả.
1. Như nhà Hiền triết viết trong I Phys.: các triết gia cổ thời đều công nhận như ý kiến chung là: “không chi được làm ra từ hư vô”. Mà quyền năng của Thiên Chúa không đi ngược với những nguyên lý thủ yếu; chẳng hạn Thiên Chúa không thể làm cho toàn thể nhỏ hơn một phần của nó, cũng không thể làm cho sự khẳng định và phủ định cùng đúng một trật. Cho nên, từ hư vô Thiên Chúa không thể tác thành, hoặc tạo thành vật nào cả.
2. Nếu tạo thành là tác thành một vật gì từ hư vô, thì được tạo thành là được hình thành. Nhưng phàm chi được hình thành là được biến đổi. Cho nên sự tạo thành là sự biến đổi. Nhưng mọi biến đổi đều phát xuất từ một chủ thể nào đó, như định nghĩa của sự chuyển động chứng tỏ, vì chuyển động là “hiện thể của hữu thể ở trong tiềm thể”. Cho nên không thể có vật nào được Thiên Chúa cho hình thành từ hư vô.
3. Vật đã được hoàn thành, hẳn đã được hình thành vào thời gian nào đó. Nhưng không thể nói rằng, vật được tạo thành đồng thời được hình thành và được hoàn thành, vì đối với những vật vững bền, điều được hình thành thì chưa hiện hữu, còn điều đã hoàn thành thì hiện hữu rồi; như vậy, điều gì đó vừa hiện hữu vừa không hiện hữu một trật. Bởi đó, nếu vật gì được hình thành, thì việc hình thành của nó sẽ đi trước việc được hoàn thành. Nhưng điều đó chỉ có thể có, nếu có sẵn trước một chủ thể, để chính việc được hình thành trụ. Cho nên, một vật được hình thành từ hư vô là điều không thể có.
4. Vả lại, không thể vượt qua quãng cách vô tận. Mà quãng cách giữa hữu thể và hư vô thì vô tận. Cho nên không thể có chuyện một vật được hình thành từ hư vô.
NHƯNG. Sách Sáng Thế (1,1) đã ghi: “Từ nguyên khởi Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất”.
LUẬN GIẢI. Phải nói rằng, việc một vật nào đó được Thiên Chúa tạo thành chẳng những không phải là việc bất khả thi, mà còn nhất thiết phải công nhận là: mọi sự đều do Thiên Chúa tạo thành, như được suy diễn bởi những điều trên đây. Vì phàm ai tác thành vật nọ từ vật kia, thì vật này phải được giả định là đã có trước khi người ấy khởi công, chứ không do chính công việc phát xuất, như nghệ nhân lao tác trên các vật tự nhiên, như trên gỗ, đồng, là những thứ không do thợ chế ra, nhưng do thiên nhiên sản xuất. Nhưng chính thiên nhiên cũng chỉ sản xuất ra các vật về mô thể, còn chất thể phải được giả định trước. Vậy, nếu Thiên Chúa chỉ hoạt động với yếu tố nào được giả định trước, thì yếu tố được giả định trước này đã không được Người tác thành. Nhưng đã chứng minh trên (vđ.44, m.1.2) là trong các vật hiện hữu không thể có chi không phát xuất bởi Thiên Chúa, vì Người là căn nguyên phổ quát của toàn thể hữu thể. Cho nên nhất thiết phải nói rằng: Thiên Chúa đã từ hư vô sản xuất ra vạn vật.
GIẢI ĐÁP.
1. Như đã nói ở trên (vđ.44, m.2), các triết gia cổ thời chỉ nghiên cứu việc phát xuất của các công hiệu đặc thù từ những căn nguyên đặc thù, là những căn nguyên nhất thiết giả định một yếu tố nào đó trước công việc của mình; theo đó, ý kiến chung của họ là: không chi được hình thành từ hư vô. Nhưng điều đó không ứng nghiệm trong việc phát xuất đầu tiên của các vật từ căn nguyên phổ quát của chúng.
2. Chỉ theo cách hiểu biết của chúng ta, sự tạo thành mới là sự biến đổi. Lý tính của sự biến đổi đòi hỏi cũng một chủ thể hiện nay khác với trước đây: vì có khi cũng một hữu thể trong hiện thể, hiện nay thì khác với trước đây, như trong với những biến đổi về lượng, về phẩm và nơi chốn; lại có khi cũng một hữu thể trong tiềm thể mà thôi, như trong sự chuyển biến về bản thể mà chủ thể là chất thể. Nhưng trong việc tạo thành, phát xuất ra toàn thể bản thể của các vật, ta không thể thấy cũng một yếu tố hiện nay khác với trước đây, có chăng là theo cách thức hiểu biết của chúng ta; như ta hình dung một vật nào trước đây tuyệt nhiên không hiện hữu, rồi sau mới hiện hữu. Tuy nhiên vì chủ động và thụ động thì dung hợp nhau trong thực tại chung của sự biến đổi, và chỉ khác nhau theo những tương quan khác nhau, như nói ở cuốn III Phys., thành thử một khi sự biến đổi bị khấu trừ, thì chỉ còn những tương quan khác nhau nơi Đấng tạo thành và vật được tạo thành. – Nhưng vì cách thức diễn tả thì tuỳ theo cách thức hiểu biết, như đã nói trên (vđ.13, m.1), nên việc tạo thành được diễn tả theo sự biến đổi: vì thế mới nói rằng việc tạo thành là tác thành một vật gì từ hư vô. Mặc dầu trong vấn đề này, “tác thành” và “được tác thành” hàm súc tương quan của căn nguyên với công hiệu, và của công hiệu với căn nguyên, còn sự biến đổi chỉ hàm súc điều đó như chuyện dĩ nhiên.
3. Đối với những vật được tác thành mà không có sự biến đổi thì “được tác thành” cũng đồng thời là “đang hoàn thành”; chẳng kỳ sự tác thành đó là đích hạn của chuyển dịch, thí dụ sự soi sáng (vì vật gì được soi sáng thì đồng thời đã rạng sáng rồi), hay không phải là đích hạn của chuyển dịch, như tâm từ, “đang được cấu tạo” trong trí khôn thì một trật “đã được cấu tạo” rồi. Và, trong những trường hợp này, điều được tác thành tức là hiện có: nhưng khi nói “được tác thành” thì biểu thị việc phát xuất bởi ai khác, và trước đây không hiện hữu. Vì việc tạo thành được thể hiện mà không có sự chuyển dịch, cho nên một vật cùng một lúc “đang” và “đã” được tạo thành rồi.
4. Vấn nạn này bắt nguồn từ sự tưởng tượng sai lầm, như thể có một cái vô hạn ở giữa hư vô và hữu thể: điều đó hiển nhiên là sai lầm. Sự tưởng tượng sai lầm này hệ tại ở chỗ cho rằng việc tạo thành là một biến đổi nào đó giữa hai chung hạn.
MỤC 3: Việc tạo thành có phải là thực tại nào đó nơi vật thụ tạo chăng?
NGHI VẤN. Hình như việc tạo thành không phải là một thực tại nào đó nơi vật thụ tạo.
1. Việc tạo thành hiểu như thụ động được quy gán cho vật thụ tạo, còn hiểu như chủ động thì được quy gán cho Đấng Tạo Hoá. Nhưng việc tạo thành xét như chủ động không phải một thực tại nào đó nơi Đấng Tạo Hoá. Chẳng vậy nơi Thiên Chúa có điều thời định nào đó. Cho nên, sự tạo thành hiểu như thụ động cũng không phải là thực tại nào đó nơi vật thụ tạo.
2. Không chi là trung gian giữa Đấng Tạo Hoá và vật thụ tạo. Nhưng việc tạo thành được biểu thị như một trung gian giữa cả hai bên: thực vậy, việc tạo thành không phải là Đấng Tạo Hoá vì không phải là việc hằng cửu, cũng không phải là vật thụ tạo, vì do cũng một lẽ sẽ phải công nhận một việc tạo thành khác để thụ tạo ấy được tạo thành, và như vậy đến vô tận. Cho nên việc tạo thành không phải là một thực tại nào cả.
3. Nếu việc tạo thành là một thực tại nào khác với bản thể thụ tạo thì hẳn nó là phụ thể của bản thể ấy. Nhưng mọi phụ thể đều phải trụ tại một chủ thể. Như thế vật thụ tạo sẽ là chủ thể của việc tạo thành. Và như vậy, cũng một thực tại vừa là chủ thể vừa là đích hạn của việc tạo thành. Đó là điều không thể có: vì chủ thể phải có trước phụ thể, và bảo tồn phụ thể; còn đích hạn thì có sau chủ động và thụ động mà nó là đích hạn, và một khi đã có đích hạn thì chủ động và thụ động cũng chấm dứt. Cho nên, chính việc tạo thành không phải là một thực tại nào cả.
NHƯNG. Điều gì được tạo thành về toàn thể bản thể thì vĩ đại hơn là chỉ được hình thành về mô thể bản thể hoặc mô thể phụ thể. Nhưng sự sinh sản cách tuyệt đối hay tuyệt đối, nhờ đó một thực tại được hình thành về mô thể bản thể hoặc mô thể phụ thể, là một thực tại nào đó nơi vật được sinh ra. Cho nên việc tạo thành, nhờ đó một vật được hình thành về toàn thể bản thể, càng phải là một thực tại nào đó nơi vật được tạo thành.
LUẬN GIẢI. Việc tạo thành đặt một điều gì đó trong vật được tạo thành, nhưng chỉ như tương quan mà thôi. Vì vật được tạo thành, không được hình thành theo sự chuyển dịch hay biến đổi. Phàm chi được hình thành theo sự chuyển dịch hoặc biến đổi đều được hình thành từ một điều gì đã có sẵn; đó là điều được thể hiện trong những sản xuất đặc thù của một số vật; nhưng điều đó không thể xảy ra trong việc sản xuất ra toàn thể hữu thể từ căn nguyên phổ quát của mọi hữu thể, là Thiên Chúa. Bởi đó, khi tạo thành, Thiên Chúa sản xuất ra các vật mà không có sự chuyển dịch. Một khi sự chuyển dịch đã bị giải trừ khỏi chủ động và thụ động thì chỉ còn lại mối tương quan, như đã nói trên (m.2, gđ.2). Cho nên nơi vật thụ tạo, việc tạo thành chỉ là một tương quan với Đấng Tạo Hoá, như đối với nguyên khởi làm cho nó hiện hữu; cũng như thụ động, – được thể hiện với sự chuyển dịch, – hàm chứa mối tương quan với nguyên khởi phát sinh ra sự chuyển dịch.
GIẢI ĐÁP.
1. Hiểu cách chủ động, việc tạo thành biểu thị hoạt động của Thiên Chúa; hoạt động này là yếu tính của Thiên Chúa trong tương quan với vật thụ tạo. Nhưng tương quan của Thiên Chúa với vật thụ tạo không phải là tương quan thực định, mà chỉ là lý định. Còn tương quan của vật thụ tạo với Thiên Chúa là tương quan thực định, như đã nói trên (vđ.13, m.7), khi bàn về những Danh xưng Thiên Chúa.
2. Vì sự tạo thành được biểu thị như một sự biến đổi, như đã nói trên (m.2, gđ.2); mà một cách nào đó sự biến đổi là trung gian giữa biến căn và vật thụ biến; cho nên việc tạo thành cũng được biểu thị như trung gian giữa Đấng Tạo Hoá và vật thụ tạo. Tuy nhiên, hiểu như thụ động, sự tạo thành có nơi vật thụ tạo và là chính vật thụ tạo. Nhưng nó không cần được tạo thành bằng một tạo thành khác; vì những tương quan theo cốt tính của chúng là hướng khác; vì những tương quan theo cốt tính của chúng là hướng tha, thì tự mình hướng tới, chứ không cần nhờ đến những tương quan nào khác như đã nói trên (vđ.42, m.1, gđ.4), khi bàn về sự bình đẳng giữa các Ngôi vị.
3. Nếu việc tạo thành được biểu thị như sự biến đổi, thì vật thụ tạo là đích hạn của nó; nhưng xét như nó thực sự là một tương quan, thì vật thụ tạo là chủ thể, nên phải có trước việc tạo thành, như chủ thể phải có trước phụ thể. Nhưng tương quan, xét theo đối tượng mà nó hướng tới, như nguyên khởi của vật thụ tạo, thì có trước vật thụ tạo. Tuy nhiên, không phải bao lâu vật thụ tạo tồn tại bấy lâu phải nói là nó được tạo thành, vì sự tạo thành hàm chứa tương quan của vật thụ tạo với Đấng Tạo Hoá bằng sự mới mẻ hay một khởi đầu nào đó.
MỤC 4: Phải chăng chỉ riêng những vật phức hợp và lập hữu mới “được tạo thành?”
NGHI VẤN. Hình như không phải chỉ riêng những vật phức hợp và lập hữu mới “được tạo thành”.
1. Trong sách De Causis có nói: “Thực tại thứ nhất trong các vật được tạo thành là hữu thể”. Nhưng hữu thể ủa vật được tạo thành thì không lập hữu. Cho nên, việc tạo thành không nhằm riêng vào vật lập hữu và phức hợp.
2. Điều được tạo thành thì phát xuất từ hư vô. Nhưng những vật phức hợp không phát xuất từ hư vô, mà từ các thành phần của chúng. Cho nên, được tạo thành không phù hợp với những vật phức hợp.
3. Nói đúng ra, điều được sản xuất trong lần phát xuất thứ nhất thì được giả định trong lần sản xuất thứ hai: như vật tự nhiên được sản xuất do sự sinh sản tự nhiên, thì được giả định trong công tác nghệ thuật. Mà yếu tố được giả định trong sự sinh sản tự nhiên là chất thể. Cho nên, nói đúng ra chất thể chính là điều được tạo thành chứ không phải vật phức hợp.
NHƯNG. Sách Sáng Thế (1,1) viết: “Từ nguyên khởi Thiên Chúa đã tạo thành trời và đất”. Mà trời và đất là những vật phức hợp lập hữu. Cho nên đó là những vật được tạo thành.
LUẬN GIẢI. Được tạo thành là được hình thành cách nào đó, như đã nói trên (m.2, gđ.2). Mà được hình thành là để hiện hữu. Cho nên hiện hữu phù hợp với những tạo vật nào thì được tạo thành và được hình thành cũng phù hợp riêng với những vật đó. Mà điều đó phù hợp riêng với những vật lập hữu, chẳng kỳ là đơn thuần như những bản thể tách rời, hay những vật phức hợp như những bản thể hữu chất. Quả thực hữu thể phù hợp riêng với vật có hữu thể; và có hữu thể là vật lập hữu trong hữu thể của mình. Còn những mô thể, những phụ thể, và những thực tại khác như thế, được gọi là hiện hữu, không phải vì chúng hiện hữu nơi chính mình, mà vì chúng thuộc về một điều khác, thí dụ sắc trắng được gọi hiện hữu vì chủ thể của nó thì trắng. Bởi đó, theo nhà Hiền triết, phụ thể được gọi là “của hữu thể” thì đúng hơn là “hữu thể”. Vậy, như các phụ thể, mô thể và những thứ không lập hữu như thế, là đồng hiện hữu hơn là hữu thể, thì chúng cũng phải được gọi la “được đồng tạo thành” hơn là “được tạo thành”. Còn những vật được tạo thành theo đúng nghĩa là những vật lập hữu.
GIẢI ĐÁP.
1. Khi nói “thực tại thứ nhất trong các vật được tạo thành là hữu thể”, thì hạn từ này không nhằm vào chủ thể được tạo thành, mà vào đối tượng riêng của việc tạo thành. Quả thực, sở dĩ ta gọi một vật là “được tạo thành” là vì nó là hữu thể, chứ không phải vì là hữu thể này: vì việc tạo thành là sự phát xuất của toàn thể hữu thể bởi hữu thể phổ quát, như đã nói trên (m.1). Kiểu nói đó cũng tương tự như khi nói “đối tượng khả thị thứ nhất là màu sắc”, mặc dầu nói đúng ra, điều được trông thấy là đối tượng “được tô màu”.
2. Việc tạo thành vật phức hợp không hệ tại việc cấu tạo nó từ những yếu tố đã sẵn có; nhưng sở dĩ ta nói một phức thể được tạo thành là vì nó được sản xuất thành hữu thể với tất cả mọi thành tố của nó.
3. Lý lẽ đó không chứng minh là chỉ một mình chất thể được tạo thành; mà chỉ chứng minh rằng chất thể nhờ việc tạo thành mà hiện hữu. Vì tạo thành là sản xuất toàn thể hữu thể chứ không nguyên chất thể mà thôi.
MỤC 5: Việc tạo thành có thuộc riêng về Thiên Chúa chăng?
NGHI VẤN. Hình như việc tạo thành không thuộc riêng về Chúa.
1. Vì theo nhà Hiền triết: “Vật hoàn bị” là vật có thể tác thành vật giống như mình. Nhưng các thụ tạo vô chất thì hoàn bị hơn các thụ tạo hữu chất, mà những vật này sản xuất ra những vật giống như mình: thực vậy, lửa sinh ra lửa, và con người sinh ra con người. Cho nên bản thể vô chất có thể tác thành bản thể giống như mình. Nhưng bản thể vô chất chỉ có thể được hình thành do việc tạo thành: vì nó không có chất thể để từ đó mà được hình thành. Cho nên vật thụ tạo nào đó có thể tạo thành.
2. Vả lại, nơi “vật được tác thành”, sự đề kháng càng mãnh liệt bao nhiêu, thì nơi “vật tác thành” càng phải có năng lực mãnh liệt hơn hư vô. Cho nên, tác thành vật nào từ điều tương phản, – là chuyện mà vật thụ tạo làm được – đòi hỏi nhiều mãnh lực hơn là tác tạo vật nào từ hư vô. Cho nên vật thụ tạo càng có thể tác thành từ hư vô.
3. Năng lực của tác nhân được suy cứu theo mức độ của vật được hình thành. Nhưng hữu thể được tạo thành thì hữu hạn, như đã chứng minh (vđ.7, m.2.3.4) khi bàn về sự vô hạn của Thiên Chúa. Cho nên, để sản xuất một vật thụ tạo bằng cách tạo thành, chỉ cần một năng lực hữu hạn. Nhưng có năng lực hữu hạn không tương phản với lý tính của vật thụ tạo. Cho nên việc “vật thụ tạo tạo thành” không phải là điều không thể có.
NHƯNG. Thánh Augustinô nói: Các thiên thần, thiện cũng như ác, không thể là những tạo hoá của vật gì cả. Cho nên các thụ tạo khác càng không thể.
LUẬN GIẢI. Theo những điều trên đây (m.1; vđ.44, m.1.2), thoạt nhìn ta đã thấy rằng, tạo thành là hoạt động riêng của một mình Thiên Chúa. Thực vậy, những công hiệu phổ quát hơn phải được quy kết vào những căn nguyên phổ quát và ưu tiên hơn. Nhưng điều phổ quát nhất trong các công hiệu là chính hữu thể. Cho nên hữu thể phải là công hiệu riêng của căn nguyên đệ nhất và phổ quát nhất, là Thiên Chúa. Vì thế trong sách De Causis cũng nói: cả trí tuệ và linh hồn, dù cao nhã đến đâu, cũng không cung cấp hữu thể, đừng kể khi nhờ hoạt động của Thiên Chúa mà hoạt động. Nhưng sản xuất ra hữu thể đơn thuần, chứ không phải là hữu thể này hữu thể nọ, thì thuộc về lý tính của việc tạo thành. Cho nên hiển nhiên việc tạo thành là hoạt động riêng của chính Thiên Chúa.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp một vật thông dự vào hoạt động riêng của một vật khác, không do sức riêng mà chỉ như dụng cụ, nghĩa là hoạt động nhờ năng lực của vật khác; chẳng hạn không khí nhờ sức lửa mà hâm nóng và phát hoả. Chính vì thế một số người nghĩ rằng, mặc dầu việc tạo thành là hoạt động riêng của căn nguyên phổ quát, nhưng trong những căn nguyên hạ cấp cũng có căn nguyên có thể tạo thành, vì nhờ năng lực của căn nguyên đệ nhất mà hành động. Như Avicenna chủ trương rằng, bản thể tách rời thứ nhất, do Thiên Chúa tạo thành, tạo thành một bản thể khác sau mình, rồi tạo thành chất thể các vật hạ đẳng. Cũng theo cách đó, Phêrô Lombardo nói rằng: Thiên Chúa có thể thông cho vật thụ tạo khả năng tạo thành, để nó dùng quyền thừa uỷ mà tạo thành, chứ không do quyền hành riêng.
Nhưng đó là điều không thể có. Vì căn nguyên đệ nhị, như dụng căn, chỉ thông dự vào hoạt động của căn nguyên cao cấp khi dùng điều gì riêng mà hoạt động cách chỉnh bị vào công hiệu của chính căn. Vậy nếu dụng căn không dùng năng lực riêng mà hoạt động gì thì chính căn có dùng nó cũng vô ích; và cũng chẳng cần dụng cụ nhất định cho những hoạt động nhất định. Quả thực, ta thấy chiếc rìu đẽo gỗ, là nhờ hình dạng riêng, nó đã sản xuất ra hình dạng của cái bàn, là công hiệu của chính căn. Nhưng điều là công hiệu riêng của Thiên Chúa Tạo Thành là điều phải giả định trước mọi hoạt động, ấy là hữu thể tuyệt đối. Vì thế không chi có thể hoạt động cách chuẩn bị và như dụng cụ vào công hiệu này: vì việc tạo thành không phát khởi từ một điều giả định trước, có thể được chuẩn bị bởi dụng căn. – Cho nên việc tạo thành không thể phù hợp với bất cứ vật thụ tạo nào, chẳng kỳ do năng lực riêng hay như dụng cụ, hoặc như thừa uỷ.
Lại càng phi lý khi chủ trương rằng, một vật thể nào đó có thể tạo thành, vì vật thể chỉ hoạt động bằng cách động chạm và lay chuyển; như vậy trong hoạt động của mình, mọi vật thể cần đến điều gì có sẵn, có thể được động tới và được lay chuyển; đó là điều tương phản với lý tính của việc tạo thành.
GIẢI ĐÁP.
1. Thực ra, một vật hoàn bị, thông dự một bản tính nào đó, tác thành một vật giống như mình, thì không phải là sản xuất ra bản tính đó cách tuyệt đối, mà chỉ là áp dụng nó vào một vật gì đó thôi. Thực vậy, một người không thể là căn nguyên của bản tính con người cách tuyệt đối, vì như vậy sẽ là căn nguyên của chính mình; nhưng là căn nguyên để bản tính nhân loại hiện hữu trong người được sinh ra này. Như thế, trong công việc của mình con người đã giả định sẵn chất liệu nhất định, nhờ đó mà có con người này. Vậy như con người này thông phần bản tính nhân loại, thì bất cứ hữu thể được tạo thành nào cũng thông phần vào bản tính của hữu thể, tôi xin nói như thế: vì chỉ một mình Thiên Chúa là hữu thể của mình, như đã nói trên (vđ.7, m.1, gđ.3; m.2). Cho nên, không vật thụ tạo nào có thể sản xuất ra một hữu thể đơn thuần, có chăng cũng chỉ phát sinh hữu thể nơi “chủ thể này”; và như thế trong hoạt động tác thành vật gì giống như mình, nó phải giả định điều làm cho một chủ thể là chủ thể “này”. Còn nơi bản thể vô chất, không thể giả định trước điều làm cho bản thể ấy là bản thể “này”: nhờ mô thể làm cho nó hiện hữu mà nó là bản thể này: vì là những mô thể lập hữu. Cho nên bản thể vô chất không thể sản xuất bản thể vô chất khác giống như mình về phương diện hữu thể; nhưng về sự hoàn bị nào đó được giặm thêm vào; chẳng hạn ta nói: thiên thần cấp trên soi sáng cho thiên thần cấp dưới, như Dionysius nói. Theo cách đó thì trên trời cũng có phụ hệ, như lời thánh tông đồ (Ep 3,15). “Từ Người mà có mọi phụ hệ trên trời, dưới đất”. Do đó, hiển nhiên là không hữu thể được tạo thành nào có thể tác thành ra thực tại khác, nếu không giả định một điều gì sẵn có. Chẳng vậy sẽ tương phản với lý tính của việc tạo thành.
2. Điều được hình thành từ điều tương phản là do ngẫu trừ, như đã nói trong I Phys.; còn do tự thể thì được hình thành từ một chủ thể đã có trong tiềm thể. Như vậy, điều tương phản kháng cự với tác nhân, vì ngăn cản điều ở trong tiềm thể kẻo trở thành hiện thể, như tác nhân nỗ lực đưa tới; thí dụ lửa muốn biến chất nước thành hiện thể giống như mình, nhưng nó bị ngăn cản bởi mô thể và những chỉnh bị tương phản, những thứ như cầm giữ tiềm thể cách nào đó không cho biến thành hiện thể. Và tiềm thể càng bị cầm giữ bao nhiêu thì năng lực của tác nhân càng phải mãnh liệt hơn bấy nhiêu để đưa chất thể sang hiện thể. Vì thế, năng lực của tác nhân càng phải mãnh liệt hơn, nếu không một tiềm thể nào được giả định sẵn. Cho nên hiển nhiên là để tác thành một vật gì từ hư vô thì cần một năng lực mãnh liệt hơn là để tác thành nó từ điều tương phản.
3. Năng lực của tác nhân phải được thẩm định chẳng những bởi bản thể của vật được tác thành, mà còn bởi cách thức tác thành: như một nhiệt lực cực mạnh phải nung đốt chẳng những nhiều hơn, mà còn mau lẹ hơn nữa. Vậy, dẫu tạo thành một công hiệu hữu hạn không giãi bày quyền năng vô hạn, nhưng tạo thành công hiệu ấy từ hư vô thì giãi bày quyền năng vô hạn ấy. Giải đáp trên đây (gđ.2) chứng tỏ điều đó. Vì nếu tiềm thể càng xa cách hiện thể bao nhiêu càng cần năng lực mãnh liệt hơn bấy nhiêu, thì tác nhân hoạt động mà không giả định một tiềm thể nào, – như trường hợp của Đấng Tạo Thành, – hẳn phải có một quyền năng vô tận; vì như không có một tương ứng nào giữa “không mảy may tiềm thể” và “tiềm thể nào đó” mà năng lực của tác nhân tư nhiên phải giả định. Và vì không vật thụ tạo nào có năng lực vô hạn tuyệt đối cũng chẳng có hiện hữu vô hạn, như đã chứng minh trên đây (vđ.7, m.2); thành thử không vật thụ tạo nào có thể tạo thành.
MỤC 6: Tạo thành có phải là việc riêng của một Ngôi vi nào chăng?
NGHI VẤN. Hình như tạo thành là việc riêng của một Ngôi vị nào đó.
1. Thực vậy, điều có trước là căn nguyên của điều đến sau; và điều hoàn bị là căn nguyên của điều bất toàn. Nhưng sự phát xuất của Ngôi vị Thiên Chúa thì có trước và hoàn bị hơn sự phát xuất của vật thụ tạo; lại hoàn bị hơn, vì Ngôi vị Thiên Chúa thì phát xuất một cách hoàn toàn giống với nguyên khởi của mình, còn vật thụ tạo thì phát xuất cách khiếm khuyết. Cho nên, những phát xuất của các Ngôi vị Thiên Chúa là căn nguyên sự phát xuất của các vật. Và như vậy, tạo thành là việc riêng của một Ngôi vị.
2. Vả lại, các Ngôi vị Thiên Chúa chỉ phân biệt nhau bằng những phát xuất và những tương quan. Vì thế phàm chi được quy gán cách khác nhau cho các Ngôi vị Thiên Chúa thì phù hợp với các Ngôi vị ấy theo những phát xuất và những tương quan của các Ngôi vị. Nhưng việc tác thành vạn vật được quy gán cho các Ngôi vị Thiên Chúa cách khác nhau: vì trong kinh Tín Kính (Nicea), cụm từ “Đấng tạo thành muôn vật hữu hình và vô hình” được quy gán cho Chúa Cha; cụm từ “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành” được quy gán cho Chúa Con; còn cụm từ “Đức Chúa và là Đấng ban sự sống” thì được quy gán cho Chúa Thánh Thần. Cho nên, việc tác thành muôn vật thì phù hợp với các Ngôi vị theo những phát xuất và những tương quan.
3. Vả lại, nếu nói rằng việc tác thành các thụ tạo được suy cứu theo thuộc tính cốt yếu nào đó, được biệt ứng cho một Ngôi vị, thì hình như chưa đủ. Bởi vì bất cứ công hiệu nào của Thiên Chúa cũng phát xuất từ bất cứ thuộc tính cốt yếu nào của Thiên Chúa, như từ quyền năng, lòng nhân lành và sự thông tuệ; và như vậy, không thuộc về thuộc tính này hơn thuộc tính kia. Cho nên, không nên quy gán cách thức tác thành nhất định cho Ngôi vị này hơn Ngôi vị kia, nếu khi tạo thành, các Ngôi vị ấy không phân biệt nhau theo những tương quan và những phát xuất.
NHƯNG. Dionysius đã nói trong 2 cap. De Div. Nom.: “mọi hạn từ chỉ căn nguyên đều là những hạn từ chung của cả Thiên Chúa tính”.
LUẬN GIẢI. Tạo thành chính là tác thành hay là sản xuất ra hữu thể của các vật. Vì mọi tác nhân đều sản xuất ra hữu thể giống với mình, nguyên khởi của công việc có thể được cứu xét do thành quả của công việc; thực vậy, lửa thì sinh ra lửa. Vì thế, việc tạo thành thì phù hợp với Thiên Chúa theo hữu thể của Người, mà hữu thể này cũng là yếu tính của Người, là yếu tính cho cả Ba Ngôi. Vì thế, tạo thành không phải là việc riêng của một Ngôi vị nào, mà là việc chung của Ba Ngôi.
Tuy nhiên, các Ngôi vị Thiên Chúa, theo lý tính của sự phát xuất, cũng là tác căn của việc tạo thành vạn vật. Như trên đây (vđ.14, m.8; vđ.19, m.4), khi bàn về tri thức và ý muốn của Thiên Chúa, đã chứng minh rằng, Thiên Chúa là căn nguyên của vạn vật bằng trí khôn và ý muốn của Người, như nghệ nhân là căn nguyên của các nghệ phẩm. Nhưng nghệ nhân hoạt động nhờ lời được quan niệm trong trí khôn, và nhờ lòng mến mộ của ý muốn đối với công trình nào đó. Cho nên Thiên Chúa Cha đã tác thành vật thụ tạo qua Lời của mình là Chúa Con; và qua Tình Yêu của mình, là Chúa Thánh Thần. Theo đó, những phát xuất của các Ngôi vị là những lý do để sản xuất ra các vật thụ tạo, bởi những phát xuất ấy hàm chứng những thuộc tính cốt yếu, ấy là tri thức và ý muốn.
GIẢI ĐÁP.
1. Những phát xuất của các Ngôi vị là căn nguyên của việc tạo thành, như đã nói trên (nhưng).
2. Như bản tính Thiên Chúa, dù là bản tính chung của ba Ngôi vị, nhưng phù hợp với mỗi Ngôi vị theo một trật tự nào đó, như Chúa Con nhận được bản tính Thiên Chúa từ Ngôi Cha, và Chúa Thánh Thần thì nhận được từ cả hai Ngôi, thì quyền năng tạo thành cũng vậy, dù là quyền năng chung của cả ba, nhưng phù hợp với mỗi Ngôi theo một trật tự nào đó: vì Chúa Con nhận được quyền năng ấy từ Chúa Con, còn Chúa Thánh Thần từ cả hai. Cho nên ta quy gán danh xưng “Đấng Tạo Thành” cho Chúa Cha, như cho Đấng không nhận được quyền năng ấy từ ai cả; về Ngôi Con thì ta nói: “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”, nghĩa là Người có cũng một quyền năng, nhưng nhận được từ Ngôi khác: vì giới từ “nhờ” này thường biểu hiện một căn nguyên trung gian, hoặc nguyên khởi từ nguyên khởi. Còn về Chúa Thánh Thần, Đấng nhận được cũng một quyền năng ấy từ hai Ngôi kia, nên ta quy gán cho Người việc quản trị và ban sự sống chon h, vật, được tạo thành bởi Chúa Cha nhờ Chúa Con. – Lý do chung của sự quy gán này cũng có thể lấy bởi sự biệt ứng những thuộc tính cốt yếu. Vì như đã nói trên (vđ.39, m.8), quyền năng, được biểu lộ đặc biệt trong việc tạo thành, thì được biệt ứng cho Chúa Cha: và vì thế câu nói “Đấng Tạo thành…” được quy gán cho Chúa Cha. Sự thông tuệ, nhờ đó mà tác nhân tri thức hoạt động, được quy gán cho Chúa Con; nên mới nói về Ngôi Con: “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”. Sau hết, lòng nhân hậu, có nhiệm vụ cai quản dẫn đưa các vật đến cùng đích xứng hợp và cung cấp sự sống, được quy gán cho Chúa Thánh Thần: vì sự sống hệ tại một thứ huy động nội tại, mà biến căn thứ nhất là cùng đích và là sự thiện hảo.
3. Tuy bất cứ công hiệu nào của Thiên Chúa cũng đều phát xuất do bất cứ thuộc tính cốt yếu nào của Người, nhưng mỗi công hiệu được quy kết vào thuộc tính, mà nó phù hợp theo lý tính riêng: như việc điều phối vạn vật được quy kết vào sự thông tuệ, việc công chính hoá kẻ gián ác được quy kết vào lòng thương xót, nhân hậu ban phát dư dật. Còn việc tạo thành, tức là sản xuất chính bản thể của các vật thì được quy kết vào quyền năng.
MỤC 7: Phải chăng dấu vết của Thiên Chúa Tam Vị nhất thiết được nhận thấy nơi các vật thụ tạo?
NGHI VẤN. Hình như dấu vết của Thiên Chúa Tam Vị không nhất thiết phải được nhận thấy nơi các vật thụ tạo.
1. Mỗi vật đều có thể bị phát hiện qua dấu vết của nó. Nhưng Thiên Chúa Tam Vị không thể được phát hiện nhờ các vật thụ tạo, như đã nói trên (vđ.32, m.1). Cho nên những dấu vết của Thiên Chúa Tam Vị không có nơi vật thụ tạo.
2. Phàm chi có nơi vật thụ tạo cũng đều được tạo thành. Vậy, nếu dấu vết của Tam Vị Thiên Chúa được nhận thấy nơi một vật thụ tạo theo những đặc tính nào đó của nó, và mọi điều được tạo thành đều mang một dấu vết của Tam Vị Thiên Chúa, ắt dấu vết của Tam Vị Thiên Chúa phải được nhận thấy nơi mỗi đặc tính ấy, và như thế là vô hạn định.
3. Công hiệu chỉ giãi bày căn nguyên của mình. Nhưng sự tác thành các vật thụ tạo thì thuộc về bản tính chung, chứ không thuộc về các tương quan, nhờ đó ta phân biệt và đếm các Ngôi vị. Cho nên, nơi các vật thụ tạo, chỉ nhận thấy dấu vết của yếu tính thuần nhất của Thiên Chúa, chứ không phải của Tam Vị.
NHƯNG. Thánh Augustinô nói trong cuốn VI De Trin.: “Dấu vết của Tam Vị Thiên Chúa hiển hiện nơi vật thụ tạo”.
LUẬN GIẢI. Mọi công hiệu đều phần nào giãi bày căn nguyên của mình, nhưng theo cách thức khác nhau. Vì có công hiệu chỉ giãi bày căn nguyên của mình, chứ không giãi bày mô thể, như khói giãi bày lửa; sự giãi bày này gọi là “dấu vết”; dấu vết chứng tỏ sự di chuyển của một vật nào đó đi qua, mà không cho biết vật ấy là gì; nhưng cũng có công hiệu giãi bày căn nguyên vì có mô thể giống như mô thể của căn nguyên ấy, thí dụ lửa được phát sinh giãi bày lửa phát sinh ra nó, và tượng của thần Mercurio giãi bày thần Mercurio: sự giãi bày này gọi là “hình ảnh”.
Vậy những phát xuất của các Ngôi vị Thiên Chúa được thể hiện theo những tác động của trí khôn và ý muốn, như đã nói trên đây (vđ.27): vì Chúa Con phát xuất như Lời của trí tuệ, Chúa Thánh Thần như Tình yêu của ý muốn. Cho nên nơi những thụ tạo có lý trí, có trí khôn và ý muốn, thì Tam Vị Thiên Chúa được giãi bày theo lối hình ảnh, nghĩa là nơi các thụ tạo ấy có “lời được quan niệm” và có “tình yêu phát xuất”.
Nhưng Tam Vị Thiên Chúa được giãi bày nơi mọi vật thụ tạo theo kiểu dấu vết, nghĩa là nơi bất cứ một thụ tạo nào đều có đôi điều nhất thiết phải quy kết vào các Ngôi vị Thiên Chúa như vào căn nguyên. Thực vậy, mỗi vật thụ tạo, lập hữu trong hữu thể của nó, đều có một mô thể hạn định nó vào một loại, và đều hướng về điều gì khác. Vậy, xét như là một bản thể được tạo thành, thì nó giãi bày căn nguyên và nguyên khởi: và như vậy, chứng tỏ Ngôi Cha, là nguyên khởi vô nguyên khởi. Xét như có mô thể và loại nào đó, thì nó giãi bày Ngôi Lời: vì mô hình của một sản phẩm thì phát xuất do quan niệm của nghệ nhân. Còn xét như quy hướng về điều khác, thì nó giãi bày Chúa Thánh Thần, xét như Tình yêu: bởi vì sự quy hướng của công hiệu về điều nào khác là do ý muốn của vị tạo thành.
Vì thế thánh Augustinô nói trong cuốn VI De Trin.: Dấu vết của Tam Vị Thiên Chúa được nhận thấy nơi bất cứ vật thụ tạo nào, theo như nó là “điều thuần nhất nào đó”, “được kiến tạo bởi một loại nào đó”, và “có một thứ hạng nào đó”. – Và ba điều được nhắc đến trong sách Khôn Ngoan (Kn 11,21), là: “Số đếm, trọng lượng và kích thước”, cũng được quy kết vào những điều đó: vì kích thước thì thuộc về bản thể được hạn định bởi những nguyên lý của nó; số đếm thì thuộc về loại, trọng lượng thuộc về thứ hạng. Cũng có thể thêm ba điều khác mà thánh Augustinô nhắc đến là “cách thức, loại và trật tự” cũng được quy kết vào những điều đó. – Lại ba cụm từ người dùng trong sách Octoginta Trium Quaest. Cũng vậy: ấy là “điều lập định, điều được phân biệt, và điều thích hợp”; quả thực, một điều lập định nhờ bản thể của mình, được phân biệt nhờ mô thể, điều thích hợp bởi thứ hạng. Tất cả những kiểu nói như thế đều có thể dễ dàng quy kết vào cũng một điều đó.
GIẢI ĐÁP.
1. Sự giãi bày dấu vết thì căn cứ trên những điều được biệt ứng; theo cách thức này từ những vật thụ tạo ta có thể nhận biết Tam Vị Thiên Chúa, như đã nói trên (nhưng; xc. Vđ.32, m.1, gđ.1).
2. Vật thụ tạo đúng là vật lập hữu, nơi đó ta có thể nhận thấy ba điều đã được nói trên đây. Tuy nhiên không thiết yếu phải nhận thấy ba điều đó nơi bất cứ đặc trưng nào, nhưng theo ba lối giãi bày đó, dấu vết được quy gán cho vật lập hữu.
3. Cả những phát xuất của các Ngôi vị, một cách nào đó, cũng là căn nguyên và lý tính của việc tạo thành, như đã nói trên (m.6).
MỤC 8: Việc tạo thành có can dự vào các công trình của thiên nhiên và của nghệ thuật chăng?
NGHI VẤN. Hình như việc tạo thành có can dự vào các công trình của thiên nhiên và của nghệ thuật.
1. Trong mọi hoạt động của thiên nhiên và của nghệ thuật đều có mô thể nào đó được phát sinh. Nhưng mô thể không được phát sinh từ một yếu tố nào cả, vì nó không có chất thể như thành phần. Cho nên trong bất cứ hoạt động nào của thiên nhiên và của nghệ thuật đều có sự tạo thành.
2. Vả lại, công hiệu không hơn căn nguyên. Nhưng nơi những vật tự nhiên không thấy có tác nhân nào khác ngoài mô thể phụ thể, tức mô thể chủ động hay thụ động. Cho nên mô thể bản thể không được phát sinh bởi công việc của thiên nhiên. Thành thử mô thể này chỉ còn nhờ việc tạo thành mà phát sinh.
3. Vả lại, thiên nhiên tác thành ra vật giống như nó. Nhưng trong thiên nhiên thấy có vật được sinh ra không bởi một vật nào giống như nó, chẳng hạn nơi những động vật được sinh ra do sự hư hoại. Cho nên mô thể của những vật này không phát sinh bởi thiên nhiên, mà bởi việc tạo thành. Về các vật khác cũng thế.
4. Vả lại, vật không được tạo thành thì không phải là vật thụ tạo. Vậy, nếu nơi những vật phát sinh do thiên nhiên, không có sự tạo thành kèm theo, thì những vật do thiên nhiên không phải là những vật thụ tạo. Đó là lạc thuyết.
NHƯNG. Trong sách Super Gen. ad litt., thánh Augustinô phân biệt công việc truyền sinh, là công việc của thiên nhiên, với công việc tạo thành.
LUẬN GIẢI. Nghi vấn này được đưa ra vì những mô thể. Một số người chủ trương tình trạng ẩn tàng của các mô thể, cho rằng các mô thể đó không khởi sự hiện hữu bởi hoạt động của thiên nhiên, nhưng là đã có sẵn nơi chất thể. – Sở dĩ họ nghĩ như vậy là do u minh về thể chất, và vì không biết phân biệt trong tiềm thể và hiện thể: Thực vậy, đang khi mô thể có sẵn trong tiềm thể nơi chất thể thì họ cho là đã có sẵn cách tuyệt đối.
Trái lại, một số người khác cho rằng các mô thể được cung cấp hay được tác thành theo kiểu tạo thành bởi tác nhân tách biệt. Theo giả thiết này, bất cứ hoạt động nào của thiên nhiên cũng có sự tạo thành kèm theo. – Sở dĩ họ chủ trương như vậy là do u minh về mô thể. Thực vậy, họ không suy rằng mô thể tự nhiên của vật thể không phải là chủ thể lập hữu, nhưng là điều “nhờ đó” mà một vật nào đó hiện hữu. Vậy, vì nói đúng ra, được hình thành và được tạo thành chỉ phù hợp với vật lập hữu, như đã nói trên (m.4), nên các mô thể không được hình thành hay tạo thành, mà “cùng được tạo thành”.
Vật được hình thành đích thực bởi tác nhân tự nhiên là phúc thể, được tạo thành từ chất thể. Thành thử việc tạo thành không can dự trong các công trình của thiên nhiên, nhưng là được giả định trước công việc của thiên nhiên.
GIẢI ĐÁP.
1. Một khi phức thể được hình thành thì những mô thể bắt đầu hiện hữu trong hiện thể, tuy nhiên không phải chúng được hình thành do tự thể, nhưng do ngẫu trừ mà thôi.
2. Trong thiên nhiên, những thể thức chủ động hoạt động nhờ năng lực của các mô thể bản thể. Cho nên tác nhân tự nhiên chẳng những sản xuất ra vật giống mình về phẩm chất, mà còn về loại.
3. Để sinh ra các động vật bất toàn thì chỉ cần tác nhân tổng quát, là năng lực thiên thai, các vật bất toàn thì giống như năng lực ấy, không phải về loại, mà bằng một sự tương tự nào đó; cũng không cần quyết rằng, các mô thể ấy được tạo thành do tác nhân tách rời. Còn về sự sinh ra các động vật hoàn bị thì tác nhân tổng quát không đủ, mà phải cần đến tác nhân riêng biệt, tức là một tác sinh đơn nghĩa.
4. Hoạt động của thiên nhiên luôn luôn giả định những nguyên tố đã được tạo thành: vì thế những thành phần của thiên nhiên được gọi là những vật thụ tạo.
