XXIII

by Pao Pevil
187 views

Bài viết này là nỗ lực xem xét lại các kiến thức, mô tả về Quỷ ma trong các thời kỳ, chắc chắn bài viết này chưa đầy đủ, nhưng cũng có thể giúp có cái nhìn khái quát hơn về ngành Quỷ học.

Quỷ học thời kỳ Cổ đại

Có thể nhận ra phần nào niên đại cổ xưa của Quỷ học (demonology) và các phép thuật (magical practices) qua các ghi chép trong Kinh Thánh hoặc văn học cổ điển, chưa kể đến luận cứ có thể rút ra từ tính phổ quát của những tín ngưỡng và thực hành này. Tuy nhiên, bằng chứng còn ấn tượng hơn đã được đưa ra ánh sáng nhờ việc giải mã chữ hình nêm (cuneiform hieroglyphics), mở đường cho việc nghiên cứu kho tàng văn học phong phú của Babylon và Assyria.

Do có liên quan đến các vấn đề lịch sử Kinh Thánh, sự chú ý đã đổ dồn vào bằng chứng từ các văn bia liên quan đến các vấn đề như vũ trụ học (cosmology), truyền thống về Đại Hồng Thủy (the tradition of the Deluge), hay mối quan hệ giữa Assyria và Babylon với dân Israel. Và có lẽ người ta ít quan tâm hơn đến những tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của chính người Assyria.

Tuy nhiên, trong vấn đề Quỷ học, một số văn bia Assyria có thể nói là có tầm quan trọng đặc biệt. Từ một số văn bản chữ hình nêm (cuneiform texts) được mô tả chuyên biệt là “tôn giáo”, dường như ngoài việc phụng tự công khai và chính thức (public and official cult) đối với “mười hai vị thần vĩ đại” và các vị thần thứ cấp dưới quyền, người Assyria còn có một tôn giáo bí mậtthiêng liêng hơn, một tôn giáo của mầu nhiệm (mystery), phép thuật (magic) và phù thủy (sorcery).

Hơn nữa, các văn bản “tôn giáo” này, cùng với một loạt chữ khắc bùa hộ mệnh (talismanic inscriptions) trên các ống trụ (cylinders) và lá bùa (amulets), đã chứng minh sự hiện diện của một nền tảng Quỷ học vô cùng phong phú. Dưới các vị thần (gods) lớn và nhỏ hơn là một lũ tinh linh (host of spirits) rộng lớn, một số là thiện (good) và ban ơn (beneficent), và một số là ác (evil) và gây hại (hurtful). Những tinh linh này được mô tả và phân loại với một sự chính xác đến mức khiến một số người so sánh cách sắp xếp này với các đẳng (choirs and orders) của hàng ngũ thiên thần (angelic hierarchy) của chúng ta.

Niên đại và tầm quan trọng của tôn giáo bí mật này, với các phép phù chú (magic) và thần chú (incantations) chống lại các linh hồn thiện (good spirits) hoặc ma quỷ ác (evil demons), có thể được nhận thấy từ thực tế là theo lệnh của Vua Assurbanipal, các ký lục (scribes) của ông đã sao chép nhiều bản của một công trình phù chú vĩ đại theo một bản mẫu (exemplar) đã được bảo tồn từ thời xa xưa trong trường học tư tế (priestly school) của Erech ở Chaldea. Công trình này bao gồm ba tập, tập đầu tiên hoàn toàn được dành cho thần chú (incantations), trừ tà (conjurations), và lời nguyền rủa (imprecations) chống lại các tinh linh tà ác (evil spirits).

Cần nhớ rằng những cuốn sách chữ hình nêm này thực sự được viết trên phiến đất sét (clay tablets). Và mỗi phiến đất sét trong những tập đầu tiên này còn sót lại đều kết thúc bằng tiêu đề, “Phiến số – của các Tinh linh Ác“. Chữ biểu ý (ideogram) ở đây được dịch là kullulu — “đáng nguyền rủa” (accursed) hoặc “ác” (evil) — cũng có thể được đọc là limuttu — “tai họa” (baneful). Ngoài việc được biết đến bằng tên chung udukku — “tinh linh” (spirit) — một ma quỷ (demon) còn được gọi rõ ràng hơn là ecimmu hoặc maskimmu.

Một loại đặc biệt trong số các tinh thần này là sedu, hay bò thần (divine bull), được thể hiện qua hình tượng bò đầu người nổi tiếng rất phổ biến trên các văn bia Assyria. Tên gọi này, có lẽ là nguồn gốc của từ tiếng Do Thái dùng để chỉ ma quỷ (demon). Đúng là sedu của người Assyria thường là một tinh linh ban phúc (beneficent) hoặc hộ mệnh (tutelary). Nhưng điều này sẽ là trở ngại cho sự suy luận, vì tinh linh thiện của một dân tộc thường bị các dân tộc đối địch coi là ác.

Quỷ học thời kỳ Bái Hỏa Giáo

Một trong những hệ thống Quỷ học (demonologies) đáng chú ý nhất là hệ thống được viết trong Avesta, thánh kinh của tôn giáo Mazdean của Zoroaster. Trong tôn giáo cổ đại này, vốn không giống như tôn giáo của người Assyria, vẫn còn tồn tại trong cộng đồng Parsee, cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối, thiện và ác trở nên nổi bật hơn. Đối lập với vị Thần thiện lương – Ahura Mazda, cùng phẩm trật các thánh linh của ngài, là vương quốc hắc ám của quỷ, hay daevas, dưới trướng Anro Mainyus (Ahriman), Ác thần tàn bạo, Quỷ của các loài Quỷ (Daevanam Daeva), kẻ luôn chiến đấu chống lại Ahura Mazda và những tôi tớ trung thành của ngài như Zoroaster.

Cần lưu ý rằng cái tên Daeva là một ví dụ về sự thay đổi từ nghĩa tốt sang nghĩa xấu, điều cũng thấy trong trường hợp của từ daimon trong tiếng Hy Lạp. Bởi lẽ ý nghĩa nguyên thủy của từ này là “Đấng Tỏa sáng”, và nó xuất phát từ gốc Aryan nguyên thủy div, vốn cũng là nguồn gốc của từ Zeus trong tiếng Hy Lạp và deus trong tiếng Latin. Nhưng trong khi những từ này, giống như từ deva trong tiếng Phạn, vẫn giữ nghĩa tốt, thì daeva lại mang nghĩa là “một ác linh”.

Trong khi từ này ở nghĩa nguyên thủy đồng nghĩa với Lucifer, thì giờ đây nó lại mang ý nghĩa gần giống như devil (quỷ). Cũng có một sự trùng hợp kỳ lạ về sự tương đồng trong thanh âm giữa daeva, từ dev trong tiếng Ba Tư hiện đại, và từ devil. Nhìn vào sự giống nhau cả về âm thanh lẫn ý nghĩa, người ta có thể bị cám dỗ mà nói rằng chúng phải có chung một nguồn gốc, nhưng thực tế là chúng ta biết chắc chắn rằng từ devil xuất phát từ diabolus (diabolosdiaballein) và không thể có mối liên hệ nào với gốc Ba Tư hay Phạn ngữ.

Mặc dù có những khác biệt rõ rệt giữa quỷ của Avesta và devil trong Kinh thánh và thần học Cơ đốc (vì giáo lý Cơ đốc không vướng phải thuyết nhị nguyên của hệ thống Mazdean), cuộc đấu tranh cốt lõi giữa thiện và ác vẫn giống nhau trong cả hai trường hợp. Và những hình ảnh về sự thánh thiện và lòng trung thành của Zoroaster khi ông bị tấn công bởi những cám dỗ và bức hại của Anro Mainyus cùng bè lũ quỷ của hắn có thể gợi nhớ đến những thử thách của các thánh dưới sự tấn công của Satan hoặc gợi ý một sự tương đồng mờ nhạt với bối cảnh vĩ đại về sự cám dỗ của Đấng Christ trong hoang địa.

Một phần của Vendidad (Fargard xix), nơi chứa đựng sự cám dỗ của Zoroaster, đã được diễn giải lại một cách xuất sắc dưới dạng diễn giải giáo lý (doctrinal paraphrase) trong tác phẩm “Leaves from my Eastern Garden” của Tiến sĩ Casartelli. Vai trò quan trọng của quỷ trong hệ thống Mazdean có thể được thấy từ tiêu đề của Vendidad, phần lớn nhất và đầy đủ nhất của Avesta, đến nỗi khi thánh kinh này được viết hoặc in mà không có các bài bình luận, nó thường được biết đến với tên gọi Vendidad Sade, có nghĩa là “được ban cho để chống lại quỷ” — vidaevodata, tức là contra daimones datus hoặc antidaemoniacus.

Quỷ học thời kỳ Do Thái Giáo

Khi chúng ta nghiên cứu sang Thánh kinh của người Do Thái, tức là Kinh thánh chính tắc (canonical Scripture), chúng ta bị ấn tượng bởi sự “thiếu vắng” một hệ thống Quỷ học phức tạp như của người Ba Tư và Assyria. Thật vậy, có rất nhiều nội dung về các thiên thần của Chúa, các đạo quân trên trời, các seraphim và cherubim, và các linh thể khác đứng trước ngai vàng hoặc phục vụ con người. Nhưng việc đề cập đến các ác linh thì tương đối ít ỏi.

Điều này không có nghĩa là sự tồn tại của chúng bị phớt lờ, vì chúng ta có sự cám dỗ bởi con rắn, một sự kiện mà cả người Do Thái lẫn Cơ đốc đều nhìn nhận là hành động của Ác quỷ. Trong sách Gióp, Satan lại xuất hiện với tư cách là kẻ cám dỗ và kẻ tố cáo người công chính; trong sách Các Vua, chính hắn là kẻ xúi giục David sát hại vị tiên tri; trong sách Zacharias, hắn được thấy trong vai trò là kẻ tố cáo. Một ác linh giáng xuống các tiên tri giả. Vua Saul bị khốn khổ hoặc dường như bị ám, bởi một ác linh. Hoạt động của quỷ trong nghệ thuật ma thuật được chỉ ra trong các công việc do các pháp sư của Pharaoh thực hiện, và trong các luật của Lê-vi ký (Levitical laws) chống lại các thuật sĩ hoặc phù thủy.

Con dê tế thần (scapegoat) được thả vào hoang địa cho Azazael, người mà một số [học giả] cho là quỷ, và có thể kể thêm vào đây một đoạn văn đáng chú ý trong sách Isaias dường như ủng hộ niềm tin phổ biến rằng quỷ cư ngụ ở những nơi hoang vắng: “Quỷ và quái vật sẽ gặp nhau, và những kẻ lông lá (hairy ones) sẽ kêu la với nhau, ở đó lamia đã nằm xuống, và tìm thấy nơi an nghỉ cho mình” (Isaiah 34:14). Đúng là từ tiếng Hê-bơ-rơ ở đây được dịch là “quỷ” (demons) có thể chỉ đơn thuần là thú hoang. Nhưng mặt khác, từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch rất sát nghĩa là “những kẻ lông lá” (hairy ones) lại được [bản] Targum và Peshitta dịch là “quỷ” (demons), và được cho là có nghĩa một vị thần hình dê tương tự như thần Pan của Hy Lạp. Và “lamia” đại diện cho [tên] gốc Lilith, một linh hồn của ban đêm mà trong truyền thuyết Hê-bơ-rơ là người vợ quỷ (người đàn bà đầu tiên) của Adam.

Một sự phát triển xa hơn của quỷ học Cựu Ước được thấy trong Sách Tobias (Sách Tô-bi-a), mặc dù không nằm trong Kinh điển Do Thái (Jewish Canon) nhưng được viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ hoặc Chaldean, và một phiên bản bằng ngôn ngữ Chaldean đã được tìm thấy trong một số tác phẩm của các Rabbi. Ở đây chúng ta có con quỷ Asmodeus, kẻ đóng vai trò được gán cho quỷ trong nhiều hệ thống quỷ học và truyền thuyết dân gian. Hắn đã được một số học giả uy tín đồng nhất với Aeshmo Daeva của Avesta; nhưng cũng có nghi ngờ về sự đồng nhất này và ưu tiên từ nguyên Hê-bơ-rơ thay thế. Dù sao đi nữa, Asmodeus đã trở thành một nhân vật nổi bật trong quỷ học Do Thái thời kỳ sau, và một số câu chuyện kỳ lạ kể về hắn trong Talmud hoàn toàn mang âm hưởng của “Nghìn lẻ một đêm”.

Hệ thống quỷ học của các Rabbi trong Talmud và Midrashim rất xa rời sự dè dặt và chừng mực của các tác phẩm chính tắc (canonical writings) liên quan đến chủ đề này. Một số nhà phê bình hiện đại cho rằng sự phát triển phong phú này của quỷ học trong dân Do Thái là do ảnh hưởng của thời kỳ Lưu đày (Captivity), và coi đó là kết quả của ảnh hưởng từ Babylon hoặc Ba Tư. Nhưng mặc dù về sự phong phú và phức tạp, nó có thể mang một số điểm tương đồng về hình thức với các hệ thống bên ngoài này, dường như không có lý do gì để coi nó đơn giản là một trường hợp sao chép (appropriation) từ các học thuyết của ngoại bang.

Vì khi chúng ta so sánh chúng kỹ lưỡng hơn, chúng ta có thể cảm thấy rằng quỷ học Do Thái có đặc tính riêng biệt, và đúng hơn nên được xem là sự phát triển (outgrowth) từ những niềm tin và ý tưởng vốn đã hiện diện trong tâm trí của dân tộc được chọn trước khi họ tiếp xúc với người Ba Tư và Babylon. Chắc chắn có một ý nghĩa quan trọng là, thay vì vay mượn từ vô số truyền thuyết và học thuyết có sẵn trong các hệ thống ngoại lai, các nhà quỷ học Rabbi (rabbinical demonologists) đã tìm kiếm điểm khởi đầu trong một số văn bản kinh thánh của riêng họ và rút ra mọi thứ họ muốn bằng các phương pháp chú giải (exegesis) tinh tế và tài tình của mình.

Do đó, đoạn văn đã nói ở trên của Isaias đã cung cấp, dưới cái tên Lilith, một nữ linh ban đêm bí ẩn dường như sống ở những nơi hoang vắng, và ngay lập tức họ biến bà ta thành người vợ quỷ của Adam và mẹ của các loài quỷ. Nhưng có thể hỏi rằng, những nhà chú giải kinh thánh này lấy cơ sở từ đâu để nói rằng tổ phụ đầu tiên của chúng ta đã kết hôn dị chủng (mixed marriage) với một sinh vật thuộc chủng loài khác và sinh ra những đứa con không phải loài người? Họ chỉ đơn giản lấy văn bản của Sáng thế ký, [chương] 5: “Và Adam sống một trăm ba mươi tuổi, và sinh một con trai theo hình ảnh và tương tự mình”. Họ nói, câu nói rõ ràng này, ngụ ý rõ ràng rằng trước thời điểm đó, ông đã sinh ra những người con không theo hình ảnh và tương tự mình; để làm điều này, ông ắt hẳn đã tìm thấy một bạn đời (help meet) thuộc chủng tộc khác với mình, cụ thể là một người vợ quỷ, để trở thành mẹ của các loài quỷ.

Ghi nhận này về sự kết hợp giữa loài người và các sinh vật thuộc một trật tự khác từ lâu đã là một đặc điểm quen thuộc trong thần thoại và quỷ học ngoại giáo, và, như sẽ thấy ngay sau đây, một số nhà bình luận Cơ đốc sơ kỳ đã phát hiện ra một số sự ủng hộ cho nó trong Sáng thế ký 6:2, đoạn kể về việc các con trai của Thiên Chúa “lấy con gái loài người làm vợ”.

Một đặc điểm của quỷ học Do Thái là số lượng quỷ đáng kinh ngạc. Theo mọi ghi chép, mỗi người đều có hàng ngàn con quỷ bên cạnh. Không khí đầy rẫy chúng, và, vì chúng là nguyên nhân của nhiều bệnh tật khác nhau, nên con người cần phải canh giữ miệng của mình kẻo nuốt phải quỷ, họ có thể mắc phải một căn bệnh chết người nào đó. Điều này có thể gợi nhớ đến xu hướng phổ biến là nhân cách hóa các bệnh dịch và nói về “con quỷ dịch tả”, “con quỷ cúm”,… Và cần lưu ý rằng sự mê tín cũ của các nhà quỷ học Do Thái này trình bày một sự tương đồng kỳ lạ đến gần gũi với lý thuyết của khoa học y tế hiện đại. Vì ngày nay chúng ta biết rằng không khí chứa đầy vi khuẩn và mầm bệnh, và bằng cách hít phải bất kỳ sinh vật sống nào trong số này, chúng ta đưa mầm bệnh vào cơ thể mình.

Quỷ học thời kỳ Kitô Giáo sơ kỳ

Đã có nhiều phép lạ xuất hiện trong Phúc Âm, và đặc biệt là việc trừ quỷ, ắt hẳn trong mọi trường hợp đã mang lại cho các tín hữu một cảm nhận sống động về sự tồn tại và quyền năng của các ác linh. Đồng thời, như chúng ta đã thấy, chính Kinh thánh không cung cấp bất kỳ thông tin đầy đủ và rõ ràng nào liên quan đến nguồn gốc và bản chất của những kẻ thù hùng mạnh này; mặt khác, có thể nhận thấy rằng những người cải đạo Cơ đốc đầu tiên và những nhà giảng dạy Cơ đốc đầu tiên phần lớn là người Do Thái hoặc Hy Lạp, và nhiều người trong số họ đang sống giữa những người theo một trong những tôn giáo phương Đông cổ xưa.

Vì vậy, trong khi họ tự nhiên mong muốn biết điều gì đó về những vấn đề này, họ lại có rất ít kiến thức xác thực về sự thật, và mặt khác, tai họ hàng ngày bị lấp đầy bởi những thông tin sai lệch và gây hiểu lầm. Trong hoàn cảnh này, hầu như không đáng ngạc nhiên khi thấy một số tác giả thuộc Giáo hội sơ kỳ, như Thánh Justin, Origen, và Tertullian, đã không nhắc đến chủ đề này một cách thỏa đáng.

Hơn nữa, có một nguồn gốc sai lầm lớn (fruitful source of error) dễ bị lãng quên. Khi sự đồng thuận chung của các nhà bình luận Công giáo đã cung cấp một sự diễn giải tốt hơn cho Sáng thế ký 6:2, và các định tín của công đồng (conciliar definitions) cùng các lập luận thần học (theological arguments) đã xác lập sự thật rằng thiên thần là những hữu thể thuần túy thiêng liêng (thuần linh), có vẻ kỳ lạ rằng một số nhà giảng dạy Cơ đốc sơ kỳ lại cho rằng cụm từ “các con trai của Thiên Chúa” có thể có nghĩa là các thiên thần, hoặc rằng những linh thể thuần khiết này đã lấy vợ là con gái loài người.

Nhưng phải lưu ý rằng các nhà bình luận cũ, những người đọc bản Bảy Mươi (Septuagint) hoặc một số phiên bản phái sinh, không [cần] áp đặt cách giải thích này cho đoạn văn; chính từ đó đã có trong văn bản trước mắt họ, tức là, Kinh thánh tiếng Hy Lạp cổ nói rõ ràng rằng “các Thiên thần của Thiên Chúa đã lấy vợ là con gái loài người“.

Cách đọc (bản văn) không may mắn này chắc chắn là đủ để mang lại một định hướng sai lầm cho phần lớn hệ thống Quỷ học của các nhà văn Cơ đốc sơ kỳ, và những người đã lạc lối trong các vấn đề khác cũng tự nhiên tiếp nhận những ý tưởng kỳ lạ về chủ đề này. Theo một số cách, một trong những ví dụ đáng chú ý nhất của hệ thống quỷ học sai lầm này là hệ thống được tìm thấy trong Các Bài giảng ngụy thư – Clementine (pseudo-Clementine Homilies) (Hom. viii, ix). Tác giả đưa ra một tường thuật rất đầy đủ về tình tiết bí ẩn của Sáng thế ký 6:2, điều mà, giống như rất nhiều người khác, ông coi là nguồn gốc của loài quỷ—những kẻ mà, theo quan điểm của ông, là hậu duệ của sự kết hợp giả định giữa các thiên thần của Thiên Chúa và con gái loài người.

Nhưng ít nhất, về một điểm, ông ta cải thiện câu chuyện và phần nào làm giảm bớt khó khăn ban đầu của chúng ta. Sự phản đối đầu tiên đối với truyền thuyết này là, các thiên thần, với tư cách là các linh thể thuần khiết, rõ ràng là không có khả năng cảm nhận những đam mê nhục dục; và có thể chính ý thức sâu sắc về khó khăn này đã khiến một số người, vốn đã chấp nhận câu chuyện, phủ nhận bản tính thiêng liêng (thuần linh) (spirituality) của thiên thần.

Nhưng nhà đạo đức học này lảng tránh nó một cách tài tình hơn. Theo tường thuật của ông, các thiên thần không bị khuất phục bởi đam mê nhục dục khi họ còn ở trạng thái thuần túy thiêng liêng; nhưng khi họ nhìn xuống và chứng kiến sự gian ác và vô ơn của loài người, những tội lỗi của họ đang làm ô uế sự sáng tạo tốt đẹp của Thiên Chúa, họ đã cầu xin Đấng Tạo Hóa ban cho họ thân xác giống như con người, để khi xuống trần gian, họ có thể sửa chữa mọi việc và sống một cuộc đời công chính trong cõi tạo vật hữu hình. Mong muốn của họ được chấp thuận, họ được mặc cho thân xác và xuống trần gian cư ngụ. Nhưng giờ đây họ nhận thấy rằng cùng với tấm áo choàng bằng xương thịt trần thế (raiment of mortal flesh), họ cũng mắc phải sự yếu đuối và những đam mê vốn đã tàn phá con người, và họ, giống như con cái loài người, cũng trở nên say đắm vẻ đẹp của phụ nữ và, quên đi mục đích cao cả khi giáng trần, họ buông mình thỏa mãn nhục dục, và cứ thế lao thẳng đến sự hủy diệt của mình.

Hậu duệ của sự kết hợp giữa họ với con gái loài người là những người khổng lồ—những người hùng mạnh có vóc dáng siêu phàm và sức mạnh siêu phàm, xứng đáng là con của các thiên thần nhập thể, nhưng đồng thời cũng là người phàm (mortal), giống như những người mẹ trần thế của họ. Và khi những người khổng lồ này bị hủy diệt trong Đại hồng thủy, những linh hồn lìa khỏi xác (disembodied souls) của họ đã lang thang khắp thế gian với tư cách là chủng tộc quỷ.