Thần học là khoa học về Thiên Chúa và về các mối tương quan giữa Thiên Chúa và vũ trụ.
Mặc dù từ “Thần học” đôi khi được sử dụng trong các tác phẩm tín lý để chỉ riêng phân ngành khoa học nghiên cứu về bản tính và các thuộc tính của Thiên Chúa, nhưng cách dùng phổ biến — kể từ khi Abelard (1079-1142) đặt tên cho tác phẩm tổng quát của mình là “Theologia Christiana” — đã bao hàm toàn bộ phạm vi giáo lý Kitô giáo dưới thuật ngữ này. Do đó, Thần học không chỉ luận giải về Thiên Chúa, mà còn về những mối tương quan giữa Thiên Chúa và vũ trụ, xét theo khía cạnh mà chúng ta gọi là Sáng tạo, Quan phòng và Cứu chuộc. Thậm chí là Quỷ học, một khía cạnh khác, nhưng vẫn nằm trong Thần học, được gọi là Thần học hệ thống về Quỷ.
Thánh Gioan Tông đồ được các Giáo phụ gọi là “nhà thần học,” bởi lẽ ngài bàn luận đầy đủ nhất về các mối tương quan nội tại giữa các Ngôi vị trong Ba Ngôi. Gregory Nazianzen (328) nhận được danh xưng này vì ông đã bảo vệ thần tính của Đức Kitô chống lại phái Arian. Để thấy một ví dụ hiện đại về việc sử dụng thuật ngữ “thần học” theo nghĩa hẹp này, hãy xem tiêu đề tập đầu tiên trong bộ sách của Tiến sĩ Hodge: “Thần học Hệ thống, Tập I: Thần học.” Nhưng thần học không đơn thuần là “khoa học về Thiên Chúa,” hay thậm chí là “khoa học về Thiên Chúa và con người.” Nó còn luận giải về các mối tương quan giữa Thiên Chúa và vũ trụ.
Nếu vũ trụ là Thiên Chúa, thì thần học sẽ là ngành khoa học duy nhất. Vì vũ trụ chỉ là một sự biểu lộ của Thiên Chúa và biệt phân với Thiên Chúa, nên mới có các ngành khoa học về tự nhiên và về tâm trí. Thần học là “khoa học của các ngành khoa học,” không phải theo nghĩa bao gồm tất cả các ngành khoa học đó, mà theo nghĩa sử dụng kết quả của chúng và chỉ ra nền tảng căn nguyên của chúng; (xem Wardlaw, Theology, 1:1, 2). Khoa học vật lý không phải là một phần của thần học. Với tư cách là một nhà vật lý thuần túy, Humboldt không cần nhắc đến danh Thiên Chúa trong tác phẩm “Cosmos” của mình (nhưng xem Cosmos, 2:418, nơi Humboldt nói: “Thánh vịnh 104 trình bày một hình ảnh của toàn bộ Vũ trụ”). Giám mục Carlisle từng nói: “Khoa học là phi thần (atheous), và do đó không thể là vô thần (atheistic).”
Chỉ khi chúng ta xem xét mối tương quan của các sự vật hữu hạn với Thiên Chúa, thì việc nghiên cứu chúng mới cung cấp chất liệu cho thần học. Nhân học là một phần của thần học, bởi vì bản tính con người là công trình của Thiên Chúa và bởi vì cách Thiên Chúa đối đãi với con người soi sáng cho phẩm tính của Ngài. Thiên Chúa được biết đến qua các công trình và hành động của Ngài. Do đó, thần học luận giải về những công trình và hành động này trong chừng mực chúng nằm trong phạm vi hiểu biết của chúng ta. Tất cả các ngành khoa học khác đều cần đến thần học để có được sự giải thích trọn vẹn. Proudhon đã nói: “Nếu bạn đi thật sâu vào chính trị, chắc chắn bạn sẽ chạm đến thần học.” Về định nghĩa của thần học, xem Luthardt, Compendium der Dogmatik, 1:2; Blunt, Dict. Doct. and Hist. Theol., mục từ: Theology; H. B. Smith, Introd. to Christ. Theol., 44; tham chiếu Aristotle, Metaph., 10, 7, 4; 11, 6, 4; và Lactantius, De Ira Dei, 11.
Trong quá trình nghiên cứu về sự Sa ngã của Thiên thần, tôi phải đề cao các học thuyết Thần học, như kim chỉ nam cho sự nghiên cứu, không thôi rất dễ bị đồng hóa với Satan, vì Satan luôn có những lý lẽ mới để bài trừ chính nó ra khỏi trần thế, khiến chúng ta không tin bọn chúng tồn tại. Khi như vậy xảy ra, chúng ta dễ bỏ quên chúng và cũng bỏ quên luôn cả Đấng đã sinh ra ta.
Mục đích của thần học là xác minh các dữ kiện liên quan đến Thiên Chúa và các mối tương quan giữa Thiên Chúa với vũ trụ, đồng thời trình bày các dữ kiện này trong sự hiệp nhất lý tính, như những phần liên kết của một hệ thống chân lý tự nhiên và được định thức.
Khi định nghĩa thần học là một khoa học, chúng ta đã chỉ ra mục đích của nó. Khoa học không sáng tạo; nó khám phá. Thần học tương hợp với mô tả này về một khoa học. Nó khám phá các dữ kiện và các mối tương quan, chứ không tạo ra chúng. Fisher, Nature and Method of Revelation, 141 – “Schiller, khi đề cập đến sự nhiệt thành trong đức tin của Columbus, nói rằng nếu nhà thám hiểm vĩ đại không tìm thấy một lục địa, ông sẽ tạo ra nó. Nhưng đức tin không có tính sáng tạo. Nếu Columbus không tìm thấy đất liền – nếu không có thực thể nào đáp lại niềm tin của ông – thì đức tin của ông chỉ là một ảo tưởng đơn thuần.” Bởi vì thần học giải quyết các dữ kiện khách quan, chúng tôi từ chối định nghĩa nó là “khoa học tôn giáo” (hay tôn giáo học); đối chiếu Am. Theol. Rev., 1850:101-126, và Thornwell, Theology, 1:139. Cả các dữ kiện và các mối tương quan mà thần học phải xử lý đều có sự hiện hữu độc lập với các tiến trình tâm trí chủ quan của nhà thần học.
Khoa học không chỉ là quan sát, ghi chép, kiểm chứng và định thức hóa các dữ kiện khách quan; nó còn là sự nhận biết và diễn giải các mối tương quan giữa những dữ kiện này, và là sự tổng hợp của cả dữ kiện lẫn các nguyên lý lý tính liên kết chúng trong một hệ thống toàn diện, cân đối và tự nhiên. Những viên gạch và thanh gỗ rải rác không làm nên ngôi nhà; tay, chân, đầu và thân mình bị cắt rời trong phòng giải phẫu không phải là con người sống động; và chỉ riêng các dữ kiện thôi thì không cấu thành khoa học. Khoa học = dữ kiện + mối tương quan; Whewell, Hist. Inductive Sciences, I, Introd., 43 – “Có thể có những dữ kiện mà không có khoa học, như kiến thức của một người thợ mỏ bình thường; có thể có tư tưởng mà không có khoa học, như trong triết học Hy Lạp sơ khai.” A. MacDonald: “Phương pháp tiên nghiệm (a priori) liên hệ với phương pháp hậu nghiệm (a posteriori) như cánh buồm với đá dằn (ballast) của con thuyền: càng nhiều triết lý càng tốt, miễn là có đủ số lượng dữ kiện; bằng không, con tàu sẽ có nguy cơ bị lật.”
Tổng thống Woodrow Wilson: “‘Hãy đưa cho chúng tôi các dữ kiện’ là mệnh lệnh sắc bén của thời đại chúng ta đối với các sử gia… Nhưng bản thân các dữ kiện không cấu thành chân lý. Chân lý là trừu tượng, không phải cụ thể. Nó là ý niệm xác đáng, là sự mặc khải đúng đắn về ý nghĩa của sự vật. Nó chỉ được gợi lên bởi những sự sắp xếp và trật tự của các dữ kiện sao cho gợi mở được ý nghĩa.” Dove, Logic of the Christian Faith, 14 – “Việc theo đuổi khoa học là việc theo đuổi các mối tương quan.” Everett, Science of Thought, 3 – Hậu tố “Logy” (ví dụ trong “theology”), từ chữ λόγος, = từ ngữ + lý trí, diễn đạt + tư tưởng, dữ kiện + ý niệm; tham chiếu Gioan 1:1 – “Ban đầu có Ngôi Lời (Logos).”
Vì thần học giải quyết các dữ kiện khách quan và các mối tương quan của chúng, nên việc sắp xếp các dữ kiện này không mang tính tùy nghi, mà được quy định bởi bản chất của chất liệu mà nó xử lý. Một nền thần học chân chính suy tư lại những tư tưởng của Thiên Chúa và đưa chúng vào trật tự của Ngài, giống như những người thợ xây Đền thờ Solomon đã lấy những viên đá đã được đẽo gọt sẵn và đặt chúng vào đúng vị trí mà kiến trúc sư đã thiết kế; Reginald Heber: “Không tiếng búa rơi, không tiếng rìu nặng nề vang lên; Như cây cọ cao vút, kiến trúc huyền nhiệm mọc lên.” Các nhà khoa học không sợ rằng dữ liệu vật lý sẽ làm hẹp hay kìm hãm trí tuệ của họ; cũng vậy, họ không nên e sợ những dữ kiện khách quan vốn là dữ liệu của thần học. Chúng ta không thể tạo ra thần học, cũng như không thể tạo ra một quy luật của tự nhiên vật lý. Giống như nhà triết học tự nhiên là “Naturæ minister et interpres” (người phục vụ và diễn giải Tự nhiên), nhà thần học cũng là người phục vụ và diễn giải chân lý khách quan của Thiên Chúa. Về Ý niệm Thần học như một Hệ thống, xem H. B. Smith, Faith and Philosophy, 126-166.
