Quỷ học về Chuột, Mèo

by Pao Pevil
11 views

Sẽ không có gì ngạc nhiên khi loài Chuột chiếm một vị trí đáng nể trong Quỷ học. Cái rùng mình mà một số người yếu tim cảm thấy khi nhìn thấy ngay cả một con chuột nhắt vô hại chính là tàn dư từ thời người ta tin rằng linh hồn những kẻ chưa được giải tội hoặc những đứa trẻ chưa rửa tội thường ám chính ngôi nhà cũ của mình trong hình hài này; và có lẽ khó mà ước tính được có bao nhiêu câu chuyện ma đã bắt nguồn từ những tiếng chạy nhảy thình thịch trong đêm của chúng.

Nhiều truyền thuyết kể về sự thoát xác của những linh hồn tội lỗi khỏi miệng người dưới hình dạng một con Chuột nhắt. Trong các cuộc chiến tranh thời Napoléon thuở đầu, chuột nhắt được sử dụng ở miền Nam nước Đức như những kẻ tiên tri: người ta bôi mực vào chân chúng rồi thả lên bản đồ châu Âu để xem quân Pháp tử thần sẽ tiến đánh vào đâu. Chúng có được sự linh thiêng này nhờ một chuỗi các liên tưởng về sức mạnh kéo dài từ câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ về con chuột cứu voi và sư tử bằng cách gặm đứt những sợi dây thừng đang trói buộc chúng. Trận chiến giữa Ếch và Chuột cũng được cho là của Homer. Người ta kể rằng chuột đã tiên báo về cuộc nội chiến đầu tiên ở Rome bằng cách gặm những vật phẩm bằng vàng trong đền thờ.

Chuột xuất hiện trong nhiều truyền thuyết với tư cách là những kẻ báo thù. Những người chú của Vua Popelus II, bị ông ta và vợ sát hại rồi ném xuống hồ, đã hiện hồn thành lũ chuột và gặm nhấm nhà vua cùng hoàng hậu cho đến chết. Kết cục tương tự cũng ập đến với Miskilaus của Ba Lan, thông qua hóa thân của những góa phụ và trẻ mồ côi mà hắn từng hãm hại. Tháp Chuột [Mouse Tower], đứng sừng sững giữa dòng Rhine, là đài tưởng niệm bị ám của Tổng giám mục Hatto tàn ác vùng Mainz; vào năm 970, ông ta đã lừa những người dân đang bị nạn đói bủa vây vào kho thóc của mình, sau đó khóa chặt cửa và thiêu sống họ. Nhưng sáng hôm sau, một đạo quân chuột, sau khi ăn sạch ngô trong các kho lẫm của ông ta, đã phủ đen các con đường dẫn đến cung điện. Vị giáo chủ tìm cách lẩn trốn trong tòa Tháp, nhưng chúng đã bơi theo, gặm xuyên qua những bức tường và ăn thịt ông ta.1

Thánh Gertrude, khoác trên mình chiếc áo choàng tang lễ của nữ thần Holda, chỉ huy một đội quân chuột nhắt. Ở khía cạnh này, bà kế thừa vị trí của Người thổi sáo thành Hamelin [Pied Piper of Hamelin], kẻ cũng dẫn dụ những đứa trẻ đi mất; và người bạn tài hoa của tôi, ông John Fiske, gợi ý rằng đây có thể là lý do tại sao các cô hầu gái người Ireland thường tỏ ra kinh hãi tột độ khi thấy một con chuột.2 Việc chăm sóc trẻ nhỏ thường được giao phó cho chúng, và sự xuất hiện của chuột nhắt từ xưa đã tiên báo về sự hiện diện của kẻ bắt chuột siêu nhiên và người dẫn hồn [psychopomp]. Pliny nói rằng vào thời của ông, việc bắt gặp một con chuột trắng được coi là điềm may. Người dân vùng Bassorah luôn cúi chào những con vật đáng kính này khi nhìn thấy chúng, chắc hẳn là để cầu xin sự che chở của chúng.


Sư tử là biểu tượng của uy quyền và của mặt trời trong vinh quang rực rỡ nhất (ứng với cung Sư Tử trong hoàng đạo), dù đâu đó bản chất quỷ dữ nguyên thủy của nó vẫn lộ diện – như trong các cuộc chiến của thần Indra, Samson và Herakles với những con sư tử hung dữ. Lối nói uyển chuyển, theo một nghĩa nào đó, đã thực hiện đúng điều kiện trong câu đố của Samson – Vị ngọt đến từ kẻ mạnh – và đã mang mật ong ra từ con Sư tử. Bản tính tàn ác của nó đã được gán một cách tinh vi cho sao Thiên Lang [Sirius – Sao Chó], ngôi sao bị quy trách nhiệm cho hạn hán và bệnh sốt rét trong “những ngày nắng nóng” [dog-days] (khi mặt trời nằm ở cung Sư Tử); nhưng sự thật nguyên thủy được ngụ ý trong một vài câu chuyện ngụ ngôn như chuyện về Aristæus, người được sinh ra sau khi mẹ mình được cứu thoát khỏi con sư tử Lybia, và được thờ phụng ở Ceos như một vị cứu tinh khỏi cả hạn hán lẫn sư tử. Hình ảnh Sư tử phủ phục dưới chân nữ thần Doorga xinh đẹp ở Ấn Độ, xuất hiện trở lại khi kéo cỗ xe của nữ thần Aphrodite, là biểu trưng cho quyền năng của cái đẹp, chứ không phải như Emerson giải thích rằng cái đẹp phụ thuộc vào sức mạnh. Cỗ xe của Freyja, nữ thần Venus phương Bắc, lại được kéo bởi những con Mèo – những hình hài thu nhỏ từ những chiến mã của người chị em phương Nam.

Chính qua những con đường này mà loài Mèo bắt đầu đóng những vai trò đôi khi có lợi trong văn học dân gian Nga, và ở một mức độ nào đó là Đức, Pháp và Anh – ví dụ như Mèo đi hia, Whittington và con mèo của ông, và truyện Nàng Mèo Trắng của Madame D’Aulnoy. Những đặc tính quỷ dữ của loài mèo phá hoại đã được thừa kế bởi mèo đen – hoặc mèo vằn, như trong vở Macbeth. Ở Đức, việc một con mèo tiến đến gần giường bệnh là điềm báo tử; nằm mơ thấy mèo là một điềm xấu. Ở Hungary, người ta nói rằng mọi con mèo đen đều trở thành phù thủy khi được bảy tuổi. Đó là con ngựa cưỡi ưa thích của phù thủy, nhưng đôi khi có thể cứu nó khỏi sự nô dịch đó bằng cách rạch một hình chữ thập lên da. Một vết cào từ mèo đen được cho là khởi đầu của một lời nguyền chết chóc.

De Gubernatis3 có một suy luận rất tò mò về nguồn gốc của câu chuyện ngụ ngôn quen thuộc Lũ mèo Kilkenny [Kilkenny Cats], mà ông truy nguyên từ niềm tin mê tín của người Đức: họ khiếp sợ cuộc chiến giữa những con mèo vì coi đó là điềm báo tử cho kẻ chứng kiến; và ông tìm thấy niềm tin này được phản chiếu trong “trò chơi linh hồn” của trẻ em vùng Tuscany, trong đó quỷ dữ và thiên thần được cho là tranh giành linh hồn. Tác giả nghĩ rằng đây có thể là một kết quả của cuộc chiến giữa Đêm tối và Hoàng hôn trong Thần thoại; nhưng nếu có thể truy tìm mối liên hệ, nó có lẽ sẽ được chứng minh là bắt nguồn từ cuộc đấu tranh giữa hai thiên sứ của Cái Chết, một biến thể của câu chuyện này gắn liền với truyền thuyết về sự tranh giành thi hài của Moses. Sách Enoch nói rằng Gabriel đã được cử đến trước trận Đại hồng thủy để kích động những gã khổng lồ ăn thịt người tiêu diệt lẫn nhau. Trong một bức tranh Ba Tư cổ mà tôi sở hữu, các quái thú đang xâu xé lẫn nhau, trong khi nạn nhân của chúng, giống như Daniel, lại không hề hấn gì. Ý tưởng này rất tự nhiên và chẳng cần phải truy tìm đối chiếu quá xa xôi.

Tiến sĩ Dennys cho chúng ta biết rằng ở Trung Quốc tồn tại một niềm tin mê tín y hệt như ở Scotland về điềm gở khi một con mèo (hoặc chó) nhảy qua xác chết. Brand và Pennant đều đề cập đến điều này, Pennant còn cho biết thêm rằng con mèo hoặc con chó nào lỡ làm vậy sẽ bị giết không nương tay. Sự thật này dường như cho thấy nỗi sợ hãi dành cho người sống, e rằng linh hồn người chết sẽ nhập vào con vật và trở thành một trong vô số những con quỷ thuộc loại người sói hoặc ma cà rồng. Nhưng nguồn gốc của niềm tin mê tín này chắc chắn nằm ở quan niệm của người Slav: nếu một con mèo nhảy qua xác chết, người quá cố sẽ trở thành ma cà rồng.

Ở Nga, loài mèo có danh tiếng tốt hơn một chút so với hầu hết các quốc gia khác. Nhiều nông dân ở vùng lân cận Moscow quả quyết với tôi rằng trong khi họ không bao giờ sẵn lòng ở lại một nhà thờ có con chó đi vào, họ lại coi đó là điềm lành nếu một con mèo đến nhà thờ. Một cụ bà gần Moscow kể với tôi rằng khi Ác quỷ cố lẻn vào Thiên đàng, hắn đã mang hình dạng một con chuột: Chó và Mèo canh giữ cổng, con Chó đã để kẻ thủ ác đi qua, nhưng con Mèo đã vồ lấy hắn, và nhờ đó ngăn chặn được một âm mưu xảo quyệt khác nhằm phá hoại hạnh phúc của loài người.

Sự mê tín về loài Mèo luôn mạnh mẽ tại Anh Quốc. Thực vậy, theo một nghĩa nào đó, đúng như lời Howell già đã viết (năm 1647) – “Chúng ta không cần phải vượt biển để tìm ví dụ về loại này, chúng ta có quá nhiều (Chúa ơi) ngay tại quê nhà: Vua James trong một thời gian dài đã miễn cưỡng tin rằng có phù thủy; nhưng sự việc xảy đến với những đứa con của Lãnh chúa Francis vùng Rutland đã thuyết phục ngài, những đứa trẻ bị phù phép bởi một mụ già từng là người hầu ở Lâu đài Belvoir, kẻ vì bất mãn đã giao kèo với Ác quỷ – kẻ trò chuyện với mụ trong hình hài một con Mèo tên là Rutterkin – để hãm hại những đứa trẻ đó chỉ vì lòng ác độc và sự thèm khát trả thù.” Đáng sợ thay khi nghĩ rằng đã có biết bao người phụ nữ nghèo khổ bị thiêu sống như phù thủy mà nhân chứng chính chống lại họ lại là con mèo cưng của chính mình. Sẽ là một nghiên cứu tâm lý thú vị nếu ta truy tìm xem niềm tin mê tín này còn sót lại bao nhiêu ngay cả trong những trí tuệ khoa học – như trong những lời mắng nhiếc loài mèo của Buffon, hay trong câu chuyện đáng kinh ngạc mà ông Wood kể về một con mèo nhìn thấy ma (năm 1877)!

Demonology and Devil-lore, M. D. Conway, V.I, P.II, C.V, S.II


  1. Xem thêm tác phẩm ‘Thần thoại động vật học’ của De Gubernatis, trong đó có nhiều chi tiết thú vị khác về chủ đề này. ↩︎
  2. ‘Những huyền thoại và người tạo ra huyền thoại.’ Boston: Osgood & Co. ↩︎
  3. ‘Zoological Mythology,’ p. 64. ↩︎