Cần phân biệt rạch ròi giữa các quỷ thú – những loài mà tiếng xấu bắt nguồn từ chính bản tính tự nhiên có thể gây hại cho con người – với những hình thái bị “quỷ hóa” do liên đới với các nhân vật hoặc tư tưởng thần thoại.
Sư tử, hổ và sói là những ví dụ tiêu biểu cho loại thứ nhất; trong khi hươu, ngựa, cú và quạ lại thuộc về loại thứ hai. Tuy nhiên, có những hoàn cảnh khiến việc duy trì ranh giới này trở nên rất khó khăn. Nếu phải vạch ra một lằn ranh, thì đó là ranh giới giữa một bên là những tác động hạ cấp vô bờ bến, cố tìm ra điểm xấu ở những con vật mà nếu không vì những liên tưởng tồi tệ thì chẳng mấy ai bận tâm; và một bên là lối nói uyển chuyển, biến những loài thú có hại thành những thực thể hiền lành bằng cách xoáy sâu vào một vài đặc tính nhỏ nhặt của chúng.
Có một vài loài động vật nguy hiểm rõ rệt, chẳng hạn như rắn, nơi mà chúng ta dễ dàng định hướng; ta có thể nhận ra nỗi sợ hãi đã tâng bốc nó thành một thiện thần [agathodemon] và nỗi sợ đã vơi bớt khi kết tội nó là loài bị nguyền rủa.1 Nhưng ta phải nói sao về loài Dê? Phải chăng thực sự có điều gì đó trong mùi hôi, trong thịt của chúng khi lần đầu được ăn, trong thói quen húc nhau, hay việc chúng phá hoại cây trồng đã khiến chúng ban đầu bị xếp vào hàng thú vật ô uế? Hay nó bị quỷ hóa đơn thuần vì vẻ ngoài kỳ quái và rậm lông? Lời giải thích nào cho tiếng xấu của người bạn trong gia đình ta là loài Mèo? Liệu đó là sự thừa hưởng từ tổ tiên hung dữ nơi rừng rậm? Hay lần đầu tiên được gợi ra từ những tiếng gào đêm kinh hoàng giống tiếng người, bóp nghẹt giấc ngủ? Hay đơn giản là nó phải chịu đựng một lời nguyền thần học đổ xuống đầu những con mèo được cho là đã kéo cỗ xe của các nữ thần Sắc đẹp?
Chó quỷ, nếu xét kỹ, còn là một chủ đề phức tạp hơn nhiều. Người nghiên cứu thần thoại và văn học dân gian sẽ nhanh chóng trở nên quen thuộc với những nguồn cơn nhỏ nhặt mà từ đó tuôn ra những dòng thác mê tín khổng lồ. Tiếng gà gáy thách thức mặt trời soi rọi vạn vật chắc hẳn đã khởi đầu cho nhiều giai thoại đầy điềm gở của nó, từ Luật Manu cho đến những con quỷ đầu gà được vẽ trên tường các nhà thờ ở Nga.

Những chiếc rễ có thịt và chia nhánh của một loài cây gây buồn ngủ đã tạo nên cả một hệ Thần thoại về Cây Nhân sâm [Mandrake] khổng lồ, vốn là chủ đề của nhiều cuốn sách mà đến nay vẫn chưa được khám phá hết. Người Ý có câu: “Một trò gian xảo của con nhím còn đáng giá hơn nhiều trò của con cáo“; thế nhưng chính thói quen hoạt động về đêm, tập tính ngủ đông và vẻ ngoài cổ quái nói chung của loài nhím khiêm nhường này, chứ không phải bản tính lén lút săn trứng và gà con, mới là thứ đưa nó lên hàng quỷ dữ. Trong nhiều câu chuyện ngụ ngôn dân gian, con vật nhỏ bé này chứng tỏ mình là đối thủ đáng gờm hơn cả sói và rắn. Người ta kể rằng chính trong hình dạng một con nhím mà Ác quỷ đã cố gắng dẫn nước biển tràn qua vùng Brighton Downs, một âm mưu đã bị ngăn chặn nhờ ánh sáng được mang đến, dù tính chất nghiêm trọng của kế hoạch này vẫn còn được chứng thực qua địa danh Vực Ác quỷ [Devil’s Dyke]. Có một truyền thuyết cổ xưa kể rằng khi Ác quỷ lẻn vào Tàu Nô-ê, hắn đã cố làm đắm tàu bằng cách khoan một cái lỗ; nhưng mưu đồ này đã thất bại và nhân loại được cứu sống nhờ con nhím đã tự nhét mình vào lỗ thủng đó. Trong câu chuyện ở Brighton, Ác quỷ dường như đã nhớ lại thất bại trước đây trong việc dìm chết loài người, nên đã chiếm lấy chính hình dạng của kẻ từng đánh bại hắn.

Con Cáo, hiện thân của sự xảo quyệt, giữ một vị trí trọng yếu trong đức tin nguyên thủy của người Nhật gần giống như loài Rắn đối với những dân tộc từng tôn thờ nó cho đến khi đủ can đảm để nguyền rủa nó. Trong nhiều bức tranh cổ về quỷ Nhật Bản, người ta thường có thể phát hiện ra giữa những đặc điểm của người, sói hoặc các loài khác, có một vài nét của kitsune (cáo). Nó luôn là linh hồn của con quỷ ba mắt của Nhật Bản (hình 2). Nó là vị “Tể tướng” thông thái, như cách gọi trong cuốn Desatir của Ba Tư, và trên thực tế là kẻ gánh tội thay cho người Nhật. Nếu một con cáo xuất hiện ở bất kỳ khu xóm nào, thì rắc rối tiếp theo sẽ được đổ lỗi cho sự viếng thăm của nó; và trong những dịp như vậy, những người chịu nạn cùng bạn bè của họ sẽ tìm đến một gốc cây cổ thụ xù xì nào đó, nơi con cáo được cho là đang cư ngụ, để làm lễ xoa dịu nó, giống như cách người ta làm với loài rắn ở các vùng khác. Ở Nhật Bản, cáo không bị coi là luôn luôn gây hại, nhưng nhìn chung là vậy. Tuyệt đối không được giết cáo trong bất kỳ trường hợp nào. Nhờ sự mê tín mà được tha mạng, loài cáo sinh sôi nảy nở đủ để cung cấp chất liệu dồi dào cho việc duy trì bản tính quỷ dữ của nó. “Hãy bắt cho chúng tôi những con cáo, những con cáo nhỏ phá hoại vườn nho“2 là một lời khuyên bị đảo ngược ở Nhật Bản. Sự tương đồng giữa tính xảo quyệt được tôn trọng ở con vật này và loài rắn được sùng kính ở những nơi khác đã được ông Fitz Cunliffe Owen xác nhận; ông cho tôi biết rằng người Nhật sẽ không giết ngay cả những loài rắn độc bò tự do giữa những ngôi đền Phật giáo đang mục nát ở Nikko – một trong những nơi linh thiêng nhất Nhật Bản, nơi từng là chỗ trú của tám nghìn tăng sĩ. Loại cáo đỏ rất phong phú ở Nhật Bản, và tiếng kêu giống người của nó vào ban đêm gần nơi ở của con người là thứ dễ dàng thúc đẩy những niềm tin mê tín.
Hơn thế nữa, thần thoại cung cấp nhiều minh chứng về một xu hướng đáng ghi nhận giữa các bộ tộc thô sơ: họ dành sự tôn kính hoặc sợ hãi đặc biệt cho bất kỳ lực lượng nào trong tự nhiên tinh tế hơn là sức mạnh cơ bắp thuần túy. Emerson nói: “Cáo xảo quyệt đến thế là vì chúng không mạnh mẽ.” Trên con quỷ Nhật Bản của chúng ta, kẻ mà chỉ riêng ba con mắt đã kết nối nó với thị lực siêu nhiên được gán cho loài cáo, thì chiếc môi sứt hiện lên rất rõ rệt. Con vật nhỏ bé đó, loài Thỏ, gắn liền với một hệ thần thoại rộng lớn, có lẽ bởi vì từ chính sự yếu ớt của mình, nó đã tạo ra những nguồn lực sinh tồn chính yếu: sự nhút nhát, cảnh giác và nhanh nhẹn. Sự mê tín về loài thỏ cũng được tìm thấy ở Phi châu. Cùng con vật ấy lại là vị thiện thần rất được sùng kính của người Kalmyks, họ gọi nó là Sákya-muni (Đức Phật), và kể rằng khi ở trần gian, nó đã hiến thân mình làm thức ăn cho một người đàn ông đang chết đói, vì hành động nhân từ đó mà nó được đưa lên cai quản mặt trăng, nơi họ tuyên bố có thể nhìn thấy nó. Truyền thuyết này có lẽ bắt nguồn từ từ ngữ Phạn sasin (mặt trăng), nghĩa đen là “vết hình thỏ”. Sasa nghĩa là “thỏ”.3 Pausanias kể lại câu chuyện về nữ thần mặt trăng chỉ dẫn cho những người tha hương xây dựng thành phố của họ ở nơi họ nhìn thấy một con thỏ chạy vào ẩn náu trong một bụi cây sim.4
Trong hệ động vật quỷ dữ của Nhật Bản, một loài vật xảo quyệt khác cũng góp mặt – đó là Chồn. Tên của con quỷ này là “Chồn Lưỡi Liềm” [kamaitachi], và nó dường như cũng đóng vai trò của một kẻ gánh tội thay. Theo ngôn ngữ của một báo cáo từ Nhật Bản: “Khi một người bị trượt guốc gỗ, ngã và bị sứt mặt trên đá dăm, hoặc khi một người đi chơi đêm trong lúc lẽ ra phải ở nhà, trở về với gương mặt mới bị sẹo, thì vết thương đó được quy cho tác động của loài chồn tàng hình độc ác và chiếc liềm sắc nhọn của nó.” Trong một truyền thuyết của thổ dân Mỹ, hai chị em quỷ cũng thường mang hình dạng của loài chồn.
Cảm thức dân gian làm nền tảng cho phần lớn việc thờ cúng động vật thời cổ đại có lẽ chính là thứ được phản chiếu trong những quan niệm của người Nhật ngày nay, như được kể lại trong đoạn trích dưới đây từ một cuốn sách thú vị:
“Một trong những vị khách này là một ông lão, bản thân ông lúc đó đang là nạn nhân của một niềm tin mê tín phổ biến rằng người chết sẽ quay lại những nơi họ từng sống trong hình hài của các loài vật khác nhau. Chúng tôi nhận thấy ông không được vui vẻ như thường lệ và đã gặng hỏi để ông trút bầu tâm sự. Ông nói ông đã mất đứa con trai nhỏ tên là Chiosin, nhưng đó không hẳn là nguyên nhân khiến ông đau khổ bằng cái cách nực cười mà vợ ông – với sự ủng hộ của cả một nhóm các bà lão đã dọn đến nhà ông để an ủi bà – đang hành xử. ‘Họ đã làm gì vậy?’ chúng tôi hỏi một cách đầy cảm thông. ‘Ôi,’ ông trả lời, ‘bất kỳ con vật quái quỷ nào đến nhà tôi, họ đều gào lên: “Chiosin, Chiosin đã về!” Thế là cả nhà nhung nhúc nào mèo, nào chó, nào dơi – vì họ bảo họ không chắc con nào là Chiosin, nên tốt nhất là cứ tử tế với tất cả còn hơn là mạo hiểm đối xử tệ với nó; hậu quả là lũ súc vật này xơi sạch cơm thịt của tôi, còn tôi thì bị tống ra khỏi cửa và bị gọi là người cha nhẫn tâm vì đã lỡ tay giết một con muỗi vừa đốt mình!‘”5
Những hành vi kỳ lạ và không thể giải thích được của động vật trong các trường hợp sợ hãi, hoảng loạn hoặc đau đớn thường bị các chủng tộc thiếu hiểu biết quy cho việc bị quỷ ám. Câu chuyện Ác quỷ nhập vào đàn lợn và lao chúng xuống biển được kể trong Tân Ước cũng mang bản chất này. Người ta nói rằng ngay cả hiện nay ở một vài vùng của Scotland, các cô gái vắt sữa vẫn mang theo một nhành cây thanh trà [rowan] thần kỳ để xua đuổi con quỷ đôi khi xâm nhập vào bò. Giáo sư Monier Williams viết từ Nam Ấn Độ: “Khi tôi và những người bạn đồng hành suýt chút nữa đã lao xuống vực vì mấy con ngựa dở chứng trên một con đèo gần Poona hôm nọ, chúng tôi được bảo rằng đoạn đường cụ thể này bị ma quỷ ám, những kẻ thường xuyên gây ra các tai nạn tương tự; và chúng tôi được cho biết rằng lẽ ra nên cầu xin Ganesa, con trai thần Siva, cùng tất cả đạo quân tinh linh của ngài trước khi khởi hành.” Vị học giả này cũng cho chúng ta biết rằng các linh hồn hộ vệ hay các “Mẫu” thường ám ở hầu khắp các vùng trên Bán đảo Ấn Độ được tin là hay cưỡi ngựa đi lại, và nếu họ tức giận, họ sẽ gieo rắc tai ương và bệnh tật. Do đó, một lữ khách vừa đến từ châu Âu sẽ bị giật mình và bối rối bởi sự xuất hiện của những con ngựa bằng đất nung thô kệch, thường to bằng kích thước thật, được dân chúng đặt quanh các đền thờ giữa những cánh đồng như những vật phẩm cúng tế để cầu an hoặc để thực hiện lời thề trong những giai đoạn bệnh tật.6
Đây cũng là niềm tin của người Corinth về Taraxippos, hay bóng ma của Glaucus, kẻ vốn bị xé xác bởi những con ngựa mà hắn đã dùng để đua và từng cho ăn thịt người để chúng hăng máu hơn; bóng ma đó vẫn quanh quẩn ở eo đất Isthmus và làm kinh động lũ ngựa trong các cuộc đua.
Có một truyền thuyết hiện đại ở vùng Viễn Tây (Mỹ) về một con ngựa được gọi là “Ác quỷ Trắng”, con vật vì trả thù cho những tổn hại đối với đồng loại đã giết chết nhiều người bằng cách cắn và giẫm đạp, và chính nó cũng bị giết sau khi thách thức nhiều nỗ lực vây bắt; nhưng trong số rất nhiều truyền thuyết cổ xưa về ngựa quỷ, có rất ít câu chuyện gợi ý rằng loài vật này có ác ý bẩm sinh với con người. Đặc tính xấu xa đôi khi của nó đơn giản là bắt nguồn từ sự liên đới với con người, và vì thế sẽ được bàn đến sau. Cũng vì lý do tương tự, loài Dê cũng sẽ được xử lý sau này, với tư cách là một loài vật biểu tượng. Người ta cũng gặp một vài huyền thoại liên quan đến những đặc điểm khó chịu của nó. Ở Nam Guinea, mùi hôi của dê được giải thích bằng một câu chuyện kể [Saga] rằng tổ tiên của chúng đã mạo muội xin một nữ thần loại thuốc mỡ thơm của bà, và bà đã tức giận bôi lên nó một loại thuốc có mùi ngược lại. Người ta cũng nói rằng nó bị những người thờ thần Bacchus coi là một con quỷ vì nó gặm nát những vườn nho; và từ đó đã khởi nguồn cho loài Trageluphoi, hay những quái vật nửa dê nửa hươu được Plato nhắc đến,7 và cũng cho chúng ta từ “bi kịch” [tragedy].8 Nhưng những đặc điểm như vậy của loài Dê có rất ít liên quan đến mối quan hệ quan trọng của nó với Thần thoại và Quỷ học.

Trong danh sách các loài động vật bị quỷ hóa do liên đới cũng phải kể đến loài Hươu. Chắc chắn những người mẹ, người vợ hay người yêu đầy lo âu của các thợ săn trẻ tuổi nông nổi đã sử dụng những câu chuyện cổ về những con hươu cái xinh đẹp ở sâu trong rừng thẳm biến thành quỷ dữ và ăn thịt những kẻ đuổi theo chúng9 để làm lời răn đe; nhưng thực tế là những con hươu đó phải tự biến đổi mình để làm việc ác, đó là một sự chứng thực đủ rõ về bản tính để ngăn chúng bị xếp vào hàng quỷ thú thực thụ – tức là những loài mà tự thân tính khí gây hại cho con người đã cung cấp nền tảng cho một sự hình dung về quỷ dữ.
Demonology and Devil-lore, M. D. Conway, V.I, P.II, C.V, S.I
- Kiểu mẫu đa diện [Protean] này của cả quỷ và ác quỷ hẳn phải đồng hành cùng chúng ta liên tục trong suốt cuốn sách này, do đó không cần phải nói nhiều về nó trong chương này. ↩︎
- Canticles ii. 15. ↩︎
- Có lẽ truyền thuyết về chị Hằng, thỏ ngọc cũng bắt nguồn từ đây. ↩︎
- De Gubernatis, II. viii. ↩︎
- ‘Our Life in Japan’ (Jephson and Elmhirst, 9th Regiment), Chapman & Hall, 1869. ↩︎
- London ‘Times,’ June 11, 1877. ↩︎
- Rep. 488. ↩︎
- Literally, goat-song. More probably it has an astrological sense. ↩︎
- E.g., the demon Huorco in the ‘Pentamerone.’ ↩︎
