Trong phần này Conway sẽ mô tả về Quỷ học dưới phân dạng các tính chất Thiên nhiên như: Bão tố, Mưa, Hạn hán, Lũ lụt,… bằng sự so sánh và gợi mở các hình tượng. Phần này khá dài, nhưng thật sự rất gần gũi và rất hay, thường xoay quanh các thần thoại trong các dân tộc. Giúp tôi hiểu rõ hơn về các hình tượng đã định hình tôi từ nhỏ, đôi khi xuất phát từ các hiện tượng tự nhiên, mà chính nỗi sợ hãi về nó đã khiến Quỷ ma xuất hiện. Cuối cùng thì, tại sao lại xuất hiện các thiên tai?
Trong những năm gần 1879, những mẩu quảng cáo kỳ lạ đã xuất hiện trên một tờ báo ở Edinburgh, kêu gọi những người sùng đạo dành ra những giờ nhất định trong đêm cho các hoạt động thánh thiện. Có vẻ như chúng ám chỉ một nhóm những người chuyên cầu nguyện, những người đảm bảo rằng sẽ có một vòng tròn cầu nguyện không dứt trong mọi khoảnh khắc của ngày và đêm. Lý thuyết của họ cho rằng chính sự ngưng nghỉ thông thường của những lời cầu nguyện Kitô giáo vào ban đêm đã gây ra biết bao tai ương. Lũ quỷ khi đó ít bị kìm hãm hơn, sẽ dấy lên bão tố và mọi hiểm nguy của thiên nhiên. Vòng tròn cầu nguyện này, với hy vọng trói buộc những con quỷ đó bằng một chuỗi lời cầu nguyện không gián đoạn, bắt nguồn, theo như tôi được biết, từ lòng nhiệt thành sùng kính của một quý bà, người mà lòng quan tâm ân cần dành cho người chị em đã khuất nào đó chắc chắn đã được nhân cách hóa nơi nữ thần Hindu Munasa – vị thần mà trong khi tất cả các vị thần khác đang ngủ, đã ngồi dưới hình dạng một con rắn trên cành cây Euphorbia để bảo vệ loài người khỏi nọc độc của loài rắn. Tuy nhiên, e rằng khó có thể là sự khôn ngoan của loài rắn đang canh thức cầu nguyện tại Edinburgh, mà đúng hơn là một sự cảnh giác đầy nguy hiểm thuộc loại đã được thực hiện bởi ‘Meggie o’ the Shore’ (Meggie bên Bờ biển), năm 1785, như Hugh Miller đã kể lại.1 Vào một đêm bão tố dữ dội, khi hai cô gái trẻ trú ẩn trong túp lều của bà, tất cả họ đều nghe thấy tiếng kêu cứu thảm thiết lúc nửa đêm hòa lẫn với tiếng gầm gào của biển cả. ‘Kéo rèm cửa sổ lên và nhìn ra ngoài xem,’ Meggie nói. Những cô gái hoảng sợ làm theo và nói: ‘Có một ánh sáng rực rỡ ở giữa Vịnh Udall. Nó treo lơ lửng trên mặt nước ở độ cao cỡ cột buồm của một con tàu, và chúng cháu có thể thấy thứ gì đó bên dưới nó giống như một chiếc thuyền đang thả neo, với biển trắng xóa đang cuộn trào quanh nó.2‘ ‘Giờ hãy thả rèm xuống,’ Meggie nói; ‘Ta không lạ gì, các cô gái của ta, với những cảnh tượng và âm thanh như thế này – những cảnh tượng và âm thanh của một thế giới khác; nhưng ta đã được dạy rằng Chúa ở gần ta hơn bất kỳ linh hồn nào; và vì vậy ta đã học được cách không sợ hãi.‘ Sau đó, không có gì lạ khi người ta phát hiện ra một chiếc thuyền yawl ở Cromarty đã bị đắm, và tất cả những người trên tàu đều chết đuối; mặc dù những người hàng xóm của Meggie dường như vẫn lưu giữ truyền thuyết này theo đức tin của bà, và coi cảnh tượng được mô tả là điềm báo trước cho những gì thực sự đã xảy ra. Đó là ở một vùng mà các thủy thủ khi trời lặng gió thường huýt sáo để gọi gió; và cả việc huýt sáo lẫn cầu nguyện, mặc dù viễn cảnh tương lai của chúng có thể mong manh, đều đã có một lịch sử lâu đời trong quá khứ.
Quỷ học về Bão tố
Trong ‘Rig-Veda’ (Kinh Vệ Đà), có một bài thánh ca đáng chú ý gửi tới Rudra (Kẻ Gầm Thét), có thể được trích dẫn thích hợp ở đây:
- Hỡi Cha của các thần bão tố, hãy để ân huệ của ngài lan tỏa đến chúng con; xin đừng loại chúng con khỏi tầm nhìn của mặt trời; nguyện cho anh hùng của chúng con thành công trong cuộc tấn công. Ôi Rudra, nguyện cho chúng con trở nên hùng mạnh trong con cháu mình.
- Nhờ những phương thuốc xoa dịu do ngài ban tặng, hỡi Rudra, nguyện cho chúng con sống đến trăm mùa đông; hãy xua đuổi hận thù, khổ đau và mọi bệnh tật lan tràn ra xa khỏi chúng con.
- Ngài, hỡi Rudra, là đấng xuất sắc nhất trong các loài về vinh quang, kẻ mạnh nhất trong những kẻ mạnh, hỡi người nắm giữ lưỡi tầm sét; hãy đưa chúng con an toàn vượt qua cái ác để đến bờ bên kia; hãy đẩy lùi mọi cuộc tấn công của tội lỗi.
- Nguyện cho chúng con không chọc giận ngài, hỡi Rudra, bằng sự tôn thờ của chúng con, không phải vì sự thiếu sót trong lời ca tụng, cũng không phải vì sự bừa bãi trong lời khấn nguyện; hãy nâng đỡ các anh hùng của chúng con bằng phương thuốc của ngài; chính ngài, tôi nghe nói, là vị thầy thuốc đứng đầu trong các thầy thuốc.
- Nguyện cho tôi xoa dịu bằng những bài thánh ca vị thần Rudra này, người được tôn thờ bằng những lời khấn nguyện và lễ vật; nguyện cho vị thần có trái tim dịu dàng, dễ dàng cầu khẩn, tóc nâu đỏ, cằm đẹp không giao nộp chúng tôi cho kẻ mưu toan điều ác [nghĩa đen, cho tâm trí đang suy tính ‘ta giết’].
- Đấng ban phát hào phóng, được hộ tống bởi các thần bão tố, đã làm tôi vui mừng, kẻ cầu khẩn ngài, bằng thức ăn tiếp thêm sinh lực nhất; như một người kiệt sức vì nóng tìm kiếm bóng râm, nguyện cho tôi, không bị tổn hại, tìm thấy nơi trú ẩn trong thiện chí của Rudra.
- Ở đâu, hỡi Rudra, là bàn tay ân cần đó của ngài, bàn tay chữa lành và an ủi? Xin ngài, xóa bỏ cái ác đến từ các vị thần, hỡi đấng ban phát hào phóng, hãy thương xót tôi.
- Gửi đến đấng có nước da nâu đỏ, nước da sáng, người phân phát bổng lộc, tôi gửi đi một bài ca tụng tuyệt vời và đẹp đẽ; hãy tôn thờ vị thần rạng rỡ bằng sự phủ phục; chúng tôi ca tụng cái tên lừng lẫy của Rudra.
- Tứ chi cứng cáp, đa hình vạn trạng, hung dữ, màu nâu đỏ, ngài đã tự trang điểm cho mình bằng những đồ trang sức bằng vàng rực rỡ; thực sự sức mạnh là không thể tách rời khỏi Rudra, đấng tể trị của thế giới rộng lớn này.
- Đáng được tôn thờ, ngài mang những mũi tên và cây cung; đáng được tôn thờ, ngài đeo một chiếc vòng cổ rực rỡ nhiều hình dạng; đáng được tôn thờ, ngài cai trị trên vũ trụ bao la này; không ai, hỡi Rudra, hùng mạnh hơn ngài.
- Hãy tôn vinh vị thần lừng danh và trẻ mãi không già đang ngự trên cỗ xe, người giống như một con thú hoang, khủng khiếp, hung dữ và hủy diệt; hãy thương xót người ca hát, hỡi Rudra, khi ngài được ca tụng; nguyện cho các đạo quân của ngài đánh gục kẻ khác chứ không phải chúng con.
- Như một cậu bé chào cha mình khi ông đến gần và nói chuyện với cậu, cũng vậy, hỡi Rudra, con chào ngài, người ban cho nhiều thứ, chúa tể của điều thiện; hãy ban cho chúng con phương thuốc khi ngài được ca tụng.
- Những phương thuốc của các ngài, hỡi các thần bão tố, thật tinh khiết và hữu ích, hỡi những người ban phát hào phóng, mang lại niềm vui, mà cha Manu của chúng con đã chọn, những thứ này và phước lành cùng sự cứu giúp của Rudra là điều tôi khao khát.
- Nguyện cho mũi tên của Rudra tránh xa chúng con, nguyện cho sự ác tâm to lớn của vị thần rực lửa được ngăn chặn; hãy tháo dây cung mạnh mẽ của ngài khỏi những người hào phóng với của cải của họ; hỡi vị thần rộng lượng, hãy thương xót con cái và hậu thế của chúng con (tức là con và cháu của chúng con).
- Vì vậy, hỡi Rudra màu nâu đỏ, người ban tặng khôn ngoan, hãy lắng nghe tiếng kêu của chúng con, hãy chú ý đến chúng con ở đây, để ngài không giận dữ với chúng con, hỡi thần, và cũng không giết chúng con; nguyện cho chúng con, giàu có những người con trai anh hùng, cất lên lời ca tụng lớn lao tại buổi tế lễ.3
Trong các bài thánh ca khác, tính cách độc địa của Rudra còn được làm cho nổi bật hơn nữa:
7. Đừng giết người đàn ông mạnh mẽ hay đứa trẻ nhỏ của chúng con, kể cả người đang lớn hay người đã trưởng thành, kể cả cha hay mẹ của chúng con; đừng làm tổn thương, hỡi Rudra, bản thân thân yêu của chúng con.
8. Đừng làm hại chúng con nơi con cái và cháu chắt, cũng như nơi người của chúng con, hay nơi bò, hay nơi ngựa của chúng con. Đừng đánh vào các anh hùng của chúng con trong cơn thịnh nộ của ngài; chúng con hầu hạ ngài vĩnh viễn với các lễ vật.4

Trong bài thánh ca này (khổ 1), Rudra được mô tả là ‘có tóc tết;’ và trong ‘Yajur-veda’ cùng ‘Atharva-veda’, các thuộc tính khác của Siva được gán cho ông, chẳng hạn như biệt danh nîla-grîva, hay cổ xanh. Trong ‘Rig-veda’, Siva xuất hiện thường xuyên như một tính từ, và có nghĩa là tốt lành. Nó được sử dụng như một biệt danh nói giảm nói tránh để xoa dịu Rudra, chúa tể của những cơn bão; và cuối cùng, biệt danh này đã phát triển thành một vị thần riêng biệt.
Quỷ học về Sấm sét
Nguồn gốc của Siva được chỉ ra thêm trong các truyền thuyết rằng cái liếc mắt của ông đã phá hủy đầu của vị thần trẻ tuổi Ganesa, người hiện đeo đầu voi, thứ được dùng để thay thế; và rằng các vị thần đã thuyết phục ông giữ cho đôi mắt mình luôn nhấp nháy (như chớp lòa), kẻo cái nhìn tập trung của ông (lưỡi tầm sét) sẽ biến vũ trụ thành tro bụi. Với truyền thuyết sau, cái nhìn của con mắt ác (evil eye) ở Ấn Độ có thể tự nhiên được liên kết, mặc dù ở phần lớn các quốc gia, điều này thường gắn liền với những ảnh hưởng ác độc được gán cho một số hành tinh, đặc biệt là sao Thổ; các lá bùa chống lại con mắt ác thường được đánh dấu bằng các ký hiệu hoàng đạo. Chính huyền thoại về con mắt của Siva vẫn còn tồn tại trong con quỷ Magarko (‘Kẻ nháy mắt’) của Nga và Vii của Serbia, kẻ có cái nhìn được cho là có sức mạnh biến con người, và thậm chí cả các thành phố, thành tro bụi. Rudra khủng khiếp được đại diện trong vô số tín ngưỡng, một số trong đó có lẽ là tàn dư; trong con quỷ biển động và gió đông Oegir của thế giới phương Bắc, và Typhon ở phương Nam; và trong đức tin của Luther rằng “bọn quỷ trú ngụ trong những đám mây đen dày đặc, và gửi bão tố, mưa đá, sấm sét, và làm nhiễm độc không khí bằng mùi hôi thối địa ngục của chúng,” một học thuyết mà Burton, tác giả cuốn Anatomist of Melancholy (Giải phẫu nỗi u sầu), cũng duy trì để chống lại các nhà khí tượng học thời bấy giờ.
Trong số các người Aryan cổ đại, sấm sét dường như là loại hình tối cao của sự hủy diệt thần thánh. Mũi tên của Rudra, con mắt của Siva, tái xuất hiện với hoàng tử của loài quỷ Wessamonny5 của người Singhalese, được mô tả là cầm một thanh kiếm vàng, mà khi hắn tức giận, nó sẽ bay ra khỏi tay hắn, và tự động quay trở lại sau khi chém đứt một ngàn cái đầu.6 Một ngọn giáo kỳ diệu được Odin mang theo, và có thể là nguyên bản của thanh Excalibur. Sviatevit bốn mặt của Nga, người mà áo choàng đã rơi xuống cho Thánh George, người có bức tượng được tìm thấy tại Zbrucz năm 1851, mang một chiếc sừng đựng rượu (mưa) và một thanh kiếm (sấm sét). Ở Hy Lạp, những thanh kiếm tương tự được Zeus và thần chiến tranh sử dụng. Thông qua Zeus và Ares, những người cầm sấm sét nguyên thủy – Indra và Siva – đã trở thành nguyên mẫu của nhiều vị thần và anh hùng bán thần. Con mắt ác của Siva trừng trừng từ trán của các Cyclopes, những kẻ rèn sấm sét; và chiếc đĩa cứu rỗi của Indra lóe lên trong những thanh kiếm và mũi tên của những kẻ diệt rồng nổi tiếng – Perseus, Pegasus, Hercules và Thánh George. Cùng một thanh kiếm đó đã bảo vệ Cây Sự Sống ở Eden, và được mang trong tay của Cái Chết trên Ngựa Nhợt Nhạt (một con ngựa trắng được hiến tế cho Sviatevit ở Nga trong thời kỳ Kitô giáo). Và, cuối cùng, chúng ta có thanh kiếm kỳ diệu tuân theo mệnh lệnh ‘Chém đầu!’ làm nức lòng tất cả các người trẻ bởi sự phục vụ mà nó dành cho Vua của Núi Vàng.

“Ta thấy Satan như ánh chớp từ trời sa xuống.”
Đối với người Hy Lạp, việc các vị thần nổi loạn rơi khỏi thiên đàng như chúng ta đã thấy được giải thích, cho sự khập khiễng của chúng. Nhưng chỉ một hiện tượng phổ quát mới có thể giải thích cho nhiều con quỷ có đôi chân cong hoặc què quặt (như ‘Diable Boiteux’)7 trên khắp thế giới. Người Namaqua ở Nam Phi có một ‘vị thần’ có “công việc” là gây ra đau đớn và cái chết; tên của hắn là Tsui’knap, tức là ‘đầu gối bị thương.’8 Livingstone nói về người Bakwains, một dân tộc khác ở Nam Phi, “Thật kỳ lạ là trong tất cả những giấc mơ hay khải tượng giả tạo của họ về vị thần của mình, ông ta luôn có một cái chân cong, giống như Thau của Ai Cập.”9 Ở Mainas, Nam Mỹ, họ tin vào một con quỷ phản trắc, Uchuella-chaqui, hay Chân Thọt, kẻ trong những khu rừng tối tăm thường mang hình dáng thân thiện để dụ dỗ người da đỏ đến chỗ chết; nhưng những người thợ săn nói rằng họ không bao giờ bị lừa nếu họ kiểm tra dấu chân của con quỷ này, bởi kích thước không đều của hai bàn chân.10 Người Úc bản địa tin vào một con quỷ tên là Biam; hắn đen đúa và dị dạng ở phần chi dưới; họ quy cho hắn nhiều bài hát và điệu nhảy của họ, nhưng cũng quy cho hắn một loại bệnh đậu mùa mà họ dễ mắc phải.11 Chúng ta không có bằng chứng nào cho thấy những mê tín này di cư từ một trung tâm chung; và có rất ít nghi ngờ rằng nhiều trong số những đôi chân cong này có thể truy nguyên về tia chớp ngoằn ngoèo.12 Đồng thời, điều này không hề mâu thuẫn với những gì đã nói về sự sa ngã của các Titan và thiên thần từ thiên đàng như thường được dùng để giải thích cho sự khập khiễng của họ trong các huyền thoại dân gian. Nhưng trong những chi tiết như vậy, thật khó để đạt được sự chắc chắn, vì quá nhiều sự kiện mang một sự tương đồng đáng ngờ với nhau. Một con lợn rừng với ‘những cái chân méo mó’ đã tấn công Thánh Godric, và sự cám dỗ để khái quát hóa câu chuyện là rất mạnh, nhưng đôi chân có lẽ chỉ nhằm chứng nhận rằng đó là con quỷ.13
Quỷ học về Mặt Trời
Tiến sĩ Schliemann đã khai quật được giữa những kho báu khác của ông một sự thật đáng chú ý rằng một ngôi đền của Helios (mặt trời) từng đứng gần vị trí của Nhà thờ Elias hiện tại, ở Mycenae, nơi mà từ ngàn xưa đã là nơi mọi người lui tới để cầu mưa.14 Khi Mặt trời gây bão được kế tục bởi Vị Tiên tri mà lời cầu nguyện đã gợi lên đám mây, ngay cả tên của người sau cũng không cần phải thay đổi. Khám phá này càng thú vị hơn bởi vì nó luôn là một phần của văn hóa dân gian Kitô giáo ở vùng đó rằng, khi một cơn bão có sấm sét xảy ra, đó là ‘Elias trong cỗ xe lửa của người.’ Một cụm từ tương tự được sử dụng ở một số nơi của mọi quốc gia Aryan, với sự biến đổi của tên gọi: đó là Woden, hay Vua Waldemar, hay Grand Veneur, hoặc đôi khi là Chúa, người được cho là đang đi ra trong cỗ xe của mình. Những con quỷ bão tố trong cỗ xe của chúng có người tiền nhiệm là Vata hoặc Vayu, chủ đề của một trong những bài thánh ca Vệ Đà đẹp nhất.
Tôi ca tụng vinh quang của cỗ xe Vata; tiếng ồn của nó đến xé toạc và vang dội.
Chạm vào bầu trời, nó di chuyển về phía trước, làm cho vạn vật trở nên đỏ rực; và nó đến đẩy bụi của trái đất đi.
Linh hồn của các vị thần, nguồn gốc của vũ trụ, vị thần này di chuyển theo ý mình.
Âm thanh của ngài đã được nghe thấy, nhưng hình dáng của ngài không được nhìn thấy; hãy để chúng ta tôn thờ Vata này bằng một lễ vật.15
Câu thơ cuối cùng này, như ông Muir đã chỉ ra, mang một sự tương đồng đáng kinh ngạc với đoạn văn trong John, “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng gió, nhưng không biết gió đến từ đâu và đi đâu; hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.”16 Nhưng một sự phát triển nổi bật không kém của ý tưởng Vệ Đà được thể hiện trong truyền thuyết Xiêm về Đức Phật, và trong trường hợp này, Thần Gió Vệ Đà Vayu tái xuất hiện bằng tên gọi cho các Thiên thần Bão tố, hay Loka Phayu. Điềm báo đầu tiên đi trước sự giáng thế của Đức Phật từ cung trời Đâu-suất (Tushita) là “khi các Thiên thần Bão tố, mặc trang phục đỏ, và với mái tóc xõa dài, đi khắp nơi cư trú của loài người kêu lớn: ‘Hãy chú ý tất cả những ai đang gần kề cái chết; hãy sám hối và đừng lơ là! Ngày tận thế đang đến gần, nhưng một trăm ngàn năm nữa và nó sẽ bị hủy diệt. Hãy nỗ lực, sau đó, hãy nỗ lực để tích công đức. Trên hết hãy từ bi; tránh làm điều ác; thiền định với tình yêu thương đối với tất cả chúng sinh, và lắng nghe những lời dạy về sự thánh thiện. Vì tất cả chúng ta đều đang nằm trong miệng của vua chết. Vậy hãy phấn đấu một cách nghiêm túc cho những quả phúc đức, và tìm kiếm điều thiện.'”17 Không kém phần đáng chú ý là bản Targum của Jonathan Ben Uzziel cho sách 1 Các Vua chương xix., nơi xung quanh Elias trên núi tụ tập ‘một đạo quân các thiên thần của gió, xẻ núi và đập vỡ đá trước mặt Chúa;’ và sau đó, ‘các thiên thần của sự chấn động,’ và tiếp theo là ‘của lửa,’ và, cuối cùng, ‘những giọng hát trong sự thinh lặng‘ đi trước sự giáng lâm của Đức Jehovah. Khó có thể ngạc nhiên khi một vị tiên tri được kể câu chuyện này, và câu chuyện về cơn bão được gợi lên từ một đám mây nhỏ, lại được đưa lên cỗ xe của Vayu Vệ Đà, cỗ xe đã lăn bánh qua mọi thời đại của thần thoại.
Quỷ học về Động đất
Các dòng chảy thần thoại dường như giữ nguyên dòng chảy của chúng, kiên định như những dòng sông, nhưng ngay cả những dòng sông này cuối cùng cũng thay đổi hoặc hòa trộn, và những truyền thống cũ cũng vậy. Vì thế chúng ta thấy rằng trong khi Thor và Odin vẫn tách biệt trong các tàn dư như Vata và Parjanya ở Ấn Độ, thì ở Nga, Elias đã kế thừa không phải chiếc áo choàng của thần gió hay mặt trời gây bão, mà là của Thần Sấm Slavonic Perun. Có rất ít nghi ngờ rằng đây là Parjanya, được mô tả trong ‘Rig-Veda’ là ‘kẻ gầm thét, kẻ tưới tắm, kẻ hào phóng,’18 người ‘đánh gục cây cối’ và ‘kẻ ác.’ ‘The people of Novgorod’19, Herberstein nói, “trước đây đã dâng sự tôn thờ và sùng bái chính của họ cho một ngẫu tượng nhất định tên là Perun. Khi sau đó họ nhận phép rửa tội, họ đã dời nó khỏi chỗ của nó, và ném nó xuống sông Volchov; và câu chuyện kể rằng nó đã bơi ngược dòng, và rằng gần cây cầu, một giọng nói đã được nghe thấy nói rằng, ‘Cái này dành cho các ngươi, hỡi cư dân Novgorod, để tưởng nhớ ta;'” và cùng lúc đó một sợi dây thừng nhất định được ném lên cầu. Thậm chí bây giờ thỉnh thoảng vào những ngày nhất định trong năm, giọng nói này của Perun có thể được nghe thấy, và vào những dịp này, các công dân chạy lại với nhau và quất nhau bằng dây thừng, và một sự náo động lớn nảy sinh từ đó đến nỗi mọi nỗ lực của thống đốc cũng khó lòng xoa dịu được.’20 Bức tượng của Perun ở Kief, ông Ralston nói, có thân bằng gỗ, trong khi đầu bằng bạc, với ria mép bằng vàng, và trong số vũ khí của nó có một cây chùy. Afanasief nói rằng trong các truyền thống của người Bạch Nga (Belarus), Perun cao lớn và có vóc dáng đẹp, với mái tóc đen và bộ râu dài bằng vàng. Bộ râu này liên hệ ông ta với Barbarossa, và, có lẽ, dù xa xôi, với con quỷ rừng Barbatos, Cung thủ Hoang dã, kẻ bói toán bằng tiếng hót của loài chim.21 Perun cũng có một cây cung đôi khi được đồng nhất với cầu vồng, một ý tưởng cũng được người Phần Lan. Từ đó, theo người Bạch Nga, bắn ra những mũi tên rực lửa, đốt cháy mọi thứ chúng chạm vào. Ở nhiều nơi của Nga (cũng như Đức), người ta cho rằng những lưỡi tầm sét này chìm sâu vào lòng đất, nhưng sau ba hoặc bảy năm chúng trở lại bề mặt dưới dạng những viên đá thuôn dài màu đen hoặc xám đậm – có lẽ là đá Belemnite, hoặc khối cát nung chảy – được gọi là đá sấm sét (thunderbolts), và được coi là những vật bảo vệ tuyệt vời chống lại sấm sét và hỏa hoạn. Người Phần Lan gọi chúng là Ukonkiwi – đá của thần sấm Ukko, và ở Courland tên của chúng là Perkuhnsteine. Trong một số trường hợp, mũi tên rực lửa của Perun đã trở thành (trong trí tưởng tượng của người dân) một chiếc chìa khóa vàng. Với nó, ông mở khóa trái đất, và mang ra ánh sáng những kho báu được che giấu, những dòng nước bị kìm hãm, những nguồn ánh sáng bị giam cầm của nó.22 Với nó, ông cũng khóa lại an toàn những kẻ chạy trốn muốn thoát khỏi quyền lực của những thầy phù thủy ác độc, và thực hiện nhiều việc tốt khác.

Những lời kêu gọi ông thực hiện các chức năng này vẫn tồn tại trong các câu thần chú được nông dân sử dụng, nhưng tên của ông đã nhường chỗ cho tên của một nhân vật Kitô giáo nào đó. Ví dụ, trong một câu thần chú, Tổng lãnh thiên thần Michael được kêu gọi để bảo vệ người cầu khẩn sau một cánh cửa sắt được khóa bởi hai mươi bảy ổ khóa, chìa của chúng được giao cho các thiên thần để mang lên thiên đàng. Trong một câu khác, John Baptist (Thánh Gioan Tẩy Giả) được miêu tả đang đứng trên một tảng đá ở Biển Thánh [tức là, trên thiên đàng], tựa vào một cái móc hoặc cây gậy sắt, và được kêu gọi để ngăn dòng máu chảy từ một vết thương, khóa các tĩnh mạch của người cầu khẩn ‘bằng chiếc chìa khóa thiên đường của ngài.’ Trong trường hợp này, huyền thoại đã chuyển thành một nghi thức. Để ngăn máu mũi chảy dữ dội, một ổ khóa đã khóa được mang đến, và máu được cho phép nhỏ qua khe hở của nó, hoặc người bị thương nắm một chiếc chìa khóa trong mỗi tay, cả hai cách đều được mong đợi sẽ chứng tỏ hiệu quả. Theo như chiếc chìa khóa có liên quan, niềm tin này dường như vẫn được duy trì giữa chúng ta.’23 Hình tượng này có giống với người đang bị đè bởi vật nặng không? Máu mũi sẽ không ngừng chảy ra do sức ép từ vật nặng, giống cảnh tượng động đất bị đất đá đè bẹp mà không thể cứu hay đang ẩn dụ về Mưa?


Quỷ học về Mưa
Chiếc Chìa Khóa mang một ý nghĩa thánh thiêng trong nhiều tôn giáo, và hệ quả là, một “chiếc chìa khóa hỏa ngục” chính là đối trọng tự nhiên của nó. Các bài thánh thi tập Vệ Đà (Vedic), vốn đề cập rất nhiều đến việc đóng và mở, giam cầm và phóng thích những trận mưa trên trời cùng hoa lợi dưới đất bởi các ác thần và thần linh, đã giải thích nhiều hiện tượng thiên nhiên, và những tư tưởng tương tự cũng nảy sinh ở nhiều vùng đất khác nhau. Do đó, chúng ta không thể chắc chắn liệu Calmet có đúng hay không khi gán nguồn gốc Ấn Độ, vốn là một tấm huy chương Ba Tư cổ đại, hình trên. Các cung hoàng đạo trên thân hình cho thấy nó là một trong những ác thần thiên giới được tin là có khả năng trói buộc những quyền năng nhân lành hoặc tháo cởi những mãnh lực kinh khủng của thiên nhiên.
Chiếc Chìa Khóa có tầm quan trọng đặc biệt trong đức tin Do Thái. Đó là biểu tượng chức vụ của Thượng tế Ê-li-a-kim, với tư cách là quản gia trong nhà vua. “Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đa-vít trên vai nó: nó mở thì không ai đóng được, nó đóng thì không ai mở được.” (Is 22,22). Các kinh sư (Rabbins) có câu nói rằng Thiên Chúa giữ lại cho riêng Ngài bốn chìa khóa mà Ngài sẽ không trao phó cho ai, ngay cả các thiên thần: chìa khóa mưa, chìa khóa huyệt mộ, chìa khóa sự màu mỡ và chìa khóa sự hiếm muộn. Việc Đức Kitô xuất hiện với chìa khóa Hỏa ngục và Sự chết, hay khi Ngài trao chìa khóa Nước Trời cho Phê-rô, là dấu chỉ của một Đấng được đặt trên các thiên thần – tục lệ này vẫn còn được áp dụng bằng cách nhét chìa khóa vào lưng trẻ em Tin Lành để chữa chảy máu cam.
Sự mê tín phổ biến gán những mũi tên đá lửa của các chủng tộc tiền sử cho các vị thần, coi đó là những tia sét được họ bắn ra, và như một số người nói, bắn ra từ một cầu vồng, là một giả thuyết quá ngây ngô để cần phải luận giải chi tiết. Về mặt dân tộc học, chúng ta không cần kết nối “mũi tên của Thần Thor” và “phát bắn của yêu tinh” (Elf shots) với những hòn đá mà Lôi Công (Lui-tsz) của Trung Hoa ném vào người phàm. Người Parthia cổ đại, vốn thường đáp trả sấm sét bằng cách bắn tên vào bầu trời, hay người Thổ Nhĩ Kỳ tấn công hiện tượng nhật thực bằng súng, là đại diện tiêu biểu cho thời kỳ sơ khai của nhân loại, dù có lẽ với lòng quả cảm hơn mức trung bình.
Tiến sĩ Macgowan kể lại rằng, liên quan đến vùng Lôi Châu (Lei-chau) của Trung Hoa, có nhiều huyền thoại tương đồng với những huyền thoại khắp thế giới. Người ta tin rằng sau những trận sấm sét, có thể tìm thấy những hòn đá đen phát ra ánh sáng và âm thanh kỳ lạ khi bị đập vào. Trong một ngôi đền thờ Lôi Công, hàng năm người dân đặt một chiếc trống để thần bão tố đó đánh. Chiếc trống trước đây được để lại trên đỉnh núi cùng với một bé trai làm vật tế thần.
Ông Dennys nói về niềm tin ở cùng quốc gia đó rằng gió dữ và bão tố là do sự băng qua không trung của “Rồng Cụt Đuôi”, và cũng do thần mưa Vũ Sư (Yü-Shüh). Một vị thần bão liên quan đến hiện tượng sóng triều (Eagre) trên sông Tiền Đường có sự trùng hợp về tên gọi với thần Oegir của vùng Scandinavia, điều này sẽ khó nhận thấy nếu không có sự tương đồng rất lớn giữa văn hóa dân gian về “Rồng Cụt Đuôi” và các loài rồng bão của một số chủng tộc Aryan. Nhìn chung, ở cả Trung Hoa và Nhật Bản, Rồng được tôn kính tương đương với nỗi kinh sợ dành cho loài rắn. Về hiện tượng này và những điểm tương đồng của nó ở Anh, tôi sẽ có lời giải thích khi chúng ta xem xét các huyền thoại về Rồng một cách chi tiết hơn. Đối với quy luật chung này, “Rồng Cụt Đuôi” của Trung Hoa là một ngoại lệ bán phần. Lòng trung thành như một người bạn của nó đã bị đáp lại bằng một cuộc tấn công khiến cái đuôi bị cắt đứt, và kể từ đó tính khí cay nghiệt của nó đã thể hiện qua việc gây ra những cơn bão. Khi một cơn giông dữ dội nổi lên, người Quảng Đông nói: “Rồng Cụt Đuôi đang đi ngang qua”, cùng một cách nói ngạn ngữ như những nông dân Aryan gán hiện tượng tương tự cho các thần bão của họ.
Quan niệm này phổ biến rộng rãi ở một số vùng của Pháp rằng tất cả các vòi rồng, dù nhẹ đến đâu, đều do các phù thủy (nam hoặc nữ) gây ra, những kẻ đang ở trong đó để lướt đi trong không trung; và tờ Melusine cho biết ở tỉnh Orne, các cơn bão được gán cho các giáo sĩ, những người được cho là đang xoay vần trong đó. Tờ báo xuất sắc này cũng thuật lại rằng cách đây vài năm, tại tỉnh đó, một giáo dân thấy mùa màng của mình bị đe dọa bởi trận mưa đá đã bắn vào đám mây. Ngày hôm sau, anh ta nghe tin vị linh mục quản xứ bị gãy chân do một cú ngã mà ngài không thể giải thích được.
Quỷ học về Vòi rồng nơi biển cả
Các ví dụ sau đây được đưa ra bởi Kuhn. Gần Stangenhagen có một kho báu giấu trong núi mà Lãnh chúa von Thümen đã cố gắng tìm kiếm, nhưng ông cùng con ngựa của mình đã bị một cơn gió lốc cuốn lên và quay trở về nhà. Người ta tin rằng Ác quỷ ngồi ở trung tâm của mỗi cơn gió lốc. Tại Biesenthal, tương truyền rằng một mệnh phụ đã trở thành cô dâu của Thần Gió. Lúc sinh thời, bà là một người cưỡi ngựa và thợ săn nổi tiếng, kẻ đã cưỡi ngựa liều lĩnh băng qua những cánh đồng và khu vườn của nông dân; giờ đây chính bà bị săn đuổi bởi rắn và rồng, và người ta có thể nghe thấy tiếng hú của bà trong mỗi cơn bão.
Tôi nghi ngờ rằng mái tóc dựng đứng thường được khắc họa ở Oni (Quỷ Nhật Bản) ám chỉ việc chúng thường xuyên trú ngụ tại trung tâm của một cơn cuồng phong. Ác thần bão tố của họ thường được vẽ đang ngự trên một đóa hoa lửa, những ngón tay giơ cao và xòe ra phóng ra những tia sét kinh khủng nhất, đánh xuống các nạn nhân và bao trùm họ trong biển lửa. Tuy nhiên, đôi khi các nghệ sĩ Nhật Bản lại trêu chọc thần sấm của họ, vẽ ông ta nằm sóng soài trên mặt đất do lực giật của chính những tia sét của mình.
Đoạn trích sau đây từ tờ The Christian Herald (Luân Đôn, ngày 12 tháng 4 năm 1877) cho thấy nỗi sợ hãi về Oni này lan rộng đến mức nào:
“Một người cha đã viết: “Cách đây vài ngày có một trận giông bão dữ dội, dường như rất nặng nề về phía con trai tôi đang sống; và tôi có cảm giác rằng mình phải đi cầu nguyện để nó được bảo vệ và không bị sét đánh chết. Cảm giác đó như muốn nói: ‘Không còn thời gian để lãng phí nữa.’ Tôi vâng lời, đi quỳ xuống và cầu nguyện xin Chúa bảo toàn mạng sống cho nó. Tôi tin Ngài đã nhận lời tôi. Con trai tôi sau đó có ghé thăm, và khi nói về trận mưa, nó bảo: ‘Sét đánh thẳng xuống, đánh trúng ngay cái cuốc trên tay con, làm con tê liệt.’ Tôi nói: ‘Có lẽ con đã chết nếu không có ai đó cầu nguyện cho con.’ Kể từ đó, nó đã hoán cải, và tôi tin rằng nó sẽ được cứu rỗi trong vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa.'”
Những đoạn văn như vậy giờ đây có thể gây ấn tượng với ngay cả nhiều Kitô hữu như là những “tàn tích”. Nhưng cách đây không lâu, một số giáo sĩ lỗi lạc đã coi Benjamin Franklin như một Ajax24 của Kitô giáo dám thách thức trời cao, bởi vì ông đã đảm nhận việc chỉ cho mọi người cách họ có thể chuyển hướng những tia sét khỏi nơi ở của mình. Trong những ngày đó, đích thân Franklin đã đến thăm một nhà thờ ở Streatham, nơi có tháp chuông bị sét đánh, và sau khi quan sát khu vực, ông đưa ra ý kiến rằng nếu tháp chuông được dựng lại mà không có cột thu lôi, nó sẽ lại bị đánh trúng. Người đàn ông táo bạo, kẻ “giật vương trượng từ tay bạo chúa và giật tia sét từ bầu trời” như câu ngạn ngữ đã nói, đã không được lắng nghe: tháp chuông được xây lại, và lại bị sét đánh sập.
Vị thần tối cao của người Quichua (Châu Mỹ), Viracocha (“bọt biển”), trỗi dậy từ Hồ Titicaca, và hành trình với những tia sét dành cho tất cả những kẻ ngăn trở, để rồi biến mất trong Đại Tây Dương. Người Quichua là anh em về mặt tâm thức với những người chăn lạc đà Ả Rập. “Biển,” như đã nói trong ‘Nghìn lẻ một đêm’, – “biển trở nên xáo động trước mặt họ, và từ đó nổi lên một cột đen, bốc cao tận trời và tiến về phía đồng cỏ,” và “kìa, đó là một vị Thần (Jinn) có tầm vóc khổng lồ.” Thần Jinn đôi khi hữu ích cũng như đáng sợ25; nó đền đáp người đánh cá đã mở phong ấn cho nó từ chiếc tráp vớt được dưới biển, giống như sự màu mỡ đến từ đám mây không lớn hơn bàn tay người mà tiên tri Ê-li-a đã cầu khẩn. Vị thần Jinn nguy hiểm được mô tả trong đoạn trích trên chính là vòi rồng trên biển. Vòi rồng được gán cho những cuộc chiến của rồng trên không trung ở Trung Hoa, và quốc gia này cũng công nhận một ác thần của triều cường. Vị nữ thần mới nhất ở Trung Hoa là một vị bảo trợ được phong thánh chống lại những ác thần bão tố gây đắm tàu ở vùng ven biển, một sự tôn phong gần đây đã được Chính phủ đế quốc công bố để tuân theo niềm tin đang phổ biến trong giới thủy thủ. Trong việc này, người Trung Hoa còn đi sau các thủy thủ và ngư dân vùng ven biển Pháp rất xa, những người trong nhiều thế kỷ, nhờ một sự liên tưởng đạo đức, đã kết nối tên gọi “Maria” với “La Marée” (Thủy triều) và “La Mer” (Biển); và bất cứ khi nào họ được cứu thoát khỏi bão tố, họ đều mang những lễ vật tạ ơn đến các đền thờ ven biển dâng kính Đức Bà Sao Biển (Star of the Sea).
Thần học Do Thái giáo cũ, trong nỗ lực khẳng định quyền tối thượng cho Gia-vê Thiên Chúa để biến Ngài thành “Chúa các chúa”, đã quy trách nhiệm cho Ngài về nhiều hành động gây tranh cãi, mà gánh nặng đó giờ đây được giảm bớt bằng cách nói rằng Ngài “cho phép” chúng xảy ra. Theo cách này, các vị Elohim gây ra trận Đại hồng thủy đã được đồng nhất với Gia-vê. Tuy nhiên, chúng ta phải thấy trong trình thuật Kinh Thánh về trận Lụt hoạt động của các ác thần nước hung dữ. Quyền năng mà một Kitô hữu sẽ thừa nhận trong một sự kiện như vậy nếu nó được kể trong các sách thánh của tôn giáo khác có thể được thấy trong thị kiến của sách Khải Huyền – “Con Rắn phun từ miệng nó ra một dòng nước như sông sau lưng người Đàn Bà, để dòng sông cuốn bà đi; nhưng đất đã tiếp cứu người Đàn Bà, đất há miệng ra nuốt dòng sông mà con Rồng đã phun từ miệng nó ra.” (Kh 12,15-16). Ác thần Inundation (Lụt lội) này xuất hiện trước các nhà thám hiểm các văn bia Ai Cập và Accadian ở khắp mọi nơi. Bộ Bảy khủng khiếp, những kẻ mà ngay cả Thần Lửa cũng không thể kiểm soát, “phá tan các bờ vực của Vực Thẳm Nước.” Thần sông Tigris, Tourtak (Tartak trong Kinh Thánh), là “kẻ hủy diệt vĩ đại.” Leviathan “làm cho vực sâu sôi sục như cái nồi“: “khi nó chồm lên, các bậc anh hùng cũng phải kinh hãi; vì sự tàn phá của nó, họ phải thanh tẩy chính mình.”
Trong các tấm bảng Thiên văn mà Giáo sư Sayce xác định niên đại khoảng năm 1600 TCN, chúng ta thấy sự liên kết liên tục giữa nhật thực và lụt lội: “Vào ngày thứ mười lăm, một cuộc nhật thực diễn ra. Nhà vua băng hà; và mưa trên trời, lụt lội trong các dòng kênh xuất hiện.” … “Sau một năm, thần Không khí gây ngập lụt.”
Trong vũ trụ luận Chaldæo-Babylonia, ba vùng của vũ trụ được cai quản bởi một Bộ Ba như sau: Thiên giới bởi Anu; bề mặt trái đất, bao gồm bầu khí quyển, bởi Bel; thế giới bên dưới bởi Nouah. Vị Nouah này chính là Hea hay Đấng Cứu Độ của người Assyria; và chính là Noah (Nô-ê) trong Kinh Thánh. Cái tên này có nghĩa là sự nghỉ ngơi hoặc nơi cư ngụ – nơi con người có thể sinh sống. Khi Tiamat con Rồng, hay Leviathan, mở “các suối của vực thẳm lớn“, và Anu mở “các cửa sổ trên trời“, chính Hea hay Noah là đấng cứu mạng con người. Ông François Lenormant đã chỉ ra đây là ý nghĩa có thể có của một trong những mảnh vỡ Accadian cổ nhất trong Bảo tàng Anh. Trong đó có ám chỉ đến “con rắn bảy đầu… đánh phá biển cả.” Tuy nhiên, Hea dường như được chỉ ra rõ ràng hơn trong một mảnh vỡ mà Giáo sư Sayce đính kèm:
Dưới vực sâu thẳm, nguyện đám đông hùng hậu dâng tế lễ.
Nỗi khiếp nhược trước Anu nơi trung tâm Thiên giới bủa vây lối ông đi.
Lũ địa thần, dẫu là những vị thần đầy quyền năng, cũng chẳng thể cản bước.
Đức vua tựa như tia chớp rạch ngang trời.
Adar, kẻ công phá thành trì của lũ phản nghịch, đã mở đường.
Như dòng nước chảy giữa vòng xoay thiên hà, ta rưới hạt giống xuống nhân gian.
Ta hướng bước chân ông về phía đền thờ, trong lòng trung thành với Bel,
(Ông ấy là) vị anh hùng của chư thần, người bảo hộ nhân loại, khắp chốn xa gần…
Hỡi Chúa tể của con, hơi thở của Nebo, xin Ngài rủ lòng lắng nghe.
Hỡi Adar, bậc anh hùng, vương miện của ánh sáng, xin truyền cảm hứng và lắng nghe con.
Nguyện cho biển cả cũng biết đến nỗi kinh hoàng mà Ngài gieo rắc…
Khi Ngài lặn xuống, ấy là dấu hiệu báo ông được nghỉ chân sau cuộc hành trình,
Trong bước chân Ngài, Merodach tìm thấy sự bình an…
Ngài không hạ bệ Phụ vương trên ngai báu.
Ngài chẳng lật đổ Bel trên ngôi cao.
Nguyện Ngài thiêu rụi lũ địa thần ngay tại bảo tọa của chúng.
Cầu mong Phụ vương trao chúng vào tay dũng khí của Ngài.
Cầu mong Bel phó mặc chúng dưới uy lực của Ngài.
(Vị vua, người được tuyên phong) bởi Anu, trưởng tử của các vị thần.
Người đứng trước Bel, nhịp đập sự sống của Ngôi nhà Người Thương.
Vị anh hùng của núi cao (dành cho những kẻ) chết chóc vô số… vị thần duy nhất, Người sẽ chẳng cưỡng cầu.
Trong mảnh vỡ nguyên thủy này, chúng ta thấy vị anh hùng của vùng núi (Noah), đang khẩn cầu cả Bel và Nebo, những Trí năng trên không và dưới địa ngục, cùng Adar là Hercules của người Chaldæan, ban cho “nguồn cảm hứng” của họ – hơi thở mà trong câu chuyện Kinh Thánh, đi ra dưới hình dạng Chim Bồ Câu (“sứ giả của sự nghỉ ngơi” trong mảnh vỡ Accadian), và trong cơn “gió” mà nhờ đó nước được rút đi.

Loài Thủy quái Hydra có thể được coi là một điển hình cho ác thần nước hủy diệt theo hai nghĩa, vì các đầu của nó vẫn tồn tại trong nhiều hình thức thần thoại. Thần Dagon và Atergatis của Syria, các thần cá, chỉ để lại yếu tố của họ cho các nàng tiên nước (Undines) trong tiểu thuyết lãng mạn. Một số nữ thần từ lâu đã tách rời khỏi các liên tưởng về nước khiến tên tuổi của họ trở nên khó hiểu, và vị trí của họ trong ác thần học lại càng khó hiểu hơn. Đối với Nixy của Đức, giờ đây chỉ đơn thuần là nghịch ngợm như Pixy của Anh, nhiều nhà ngữ văn truy tìm cụm từ thông dụng chỉ Ác quỷ – “Old Nick“. Tuy nhiên, tôi tin rằng cụm từ này mang tính phổ biến là nhờ Thánh Nicholas hơn là nhờ vị thần nước Bắc Âu mà ngài được chỉ định thay thế sau khi Kitô giáo lên ngôi. Vị Poseidon thánh thiện này, từ chỗ là quan thầy của các ngư dân, dần dần trở nên gắn liền với ác thần mà Sir Walter Scott nói rằng, “thủy thủ Anh sợ hắn khi họ chẳng sợ gì khác,” cũng từng là quan thầy cổ xưa của những tên cướp biển; và những kẻ trộm cướp được gọi là “thư ký của Thánh Nicholas.”
Tại Na Uy và Hà Lan, niềm tin cổ xưa vào ác thần Nikke rất mạnh mẽ; hắn là một kiểu Thợ săn Hoang dã của Biển cả, và đã để lại nhiều truyền thuyết, trong đó “Người Lan truyền Bay” (The Flying Dutchman) là một. Nhưng niềm tin của tôi là, thông qua mối quan hệ huyền thoại của ngài với các cậu bé, Thánh Nicholas đã mang lại cho cái tên Old Nick âm hưởng đạo đức hiện đại. Vì danh tiếng của ngài trong việc hồi sinh ba đứa trẻ bị sát hại, Thánh Nicholas đã được chọn làm quan thầy của chúng, và vào ngày lễ của ngài, mùng 6 tháng 12, theo tục lệ cũ người ta sẽ phong một Giám mục Thiếu nhi (Boy-Bishop), vị này giữ chức cho đến ngày 28 cùng tháng. Bằng cách này, ngài đã trở thành một phần bổ trợ đạo đức cho vị thần Wodan cũ của các bộ tộc Germanic, người được tin là vào mùa đông sẽ tìm nơi trú ẩn và ban phát phước lành từ những cây xanh vĩnh cửu, đặc biệt là cây thông, cho những đứa trẻ yêu quý vô tình lang thang dưới tán cây đó. “Bartel”, “Klaubauf”, hay bất cứ tên gọi nào, đã bị hạ thấp xuống làm đầy tớ cho Thánh Nicholas, người mà tên gọi hiện nay bị trộn lẫn thành “Santaclaus” (Ông già Noel). Theo tục lệ cũ, ngài xuất hiện cùng với đầy tớ Knecht Klaubauf – do những người biết rõ về lũ trẻ đóng vai – mang đến một kiểu ngày phán xét. Sau khi quà cáp đã được ban cho những đứa trẻ ngoan, Thánh Nicholas sau đó ra lệnh cho Klaubauf bỏ những đứa trẻ hư vào giỏ và đưa chúng đi trừng phạt. Sự kinh hãi và những tiếng thét do đó gây ra đã tạo nên nỗi khổ tâm lớn cho trẻ em, và ở Munich cùng một số nơi khác, các nhà chức trách đã chính thức cấm những màn kịch như vậy một cách thích đáng. Nhưng trong nhiều thế kỷ, các vú nuôi và những người mẹ thường đe dọa những đứa trẻ bướng bỉnh rằng sẽ bị Nicholas bắt đi vào cuối năm; và bằng cách này, mỗi năm kết thúc, trong tâm trí trẻ thơ, với một Ngày Phán Xét, một cuộc Cân Linh Hồn, và một Ác quỷ hay Old Nick trong vai trò là tác nhân báo ứng.
Nick từ lâu đã mất đi đặc tính thủy tộc của mình, và ta tìm thấy tên của nhân vật này xuất hiện tận vùng Viễn Tây (Hoa Kỳ) dưới danh xưng “Nick của rừng thiêng” (The Nick of the Woods) – một truyền thuyết hoang dã về một người định cư, vì lời thề báo thù cho những nỗi oan khuất của mình, đã thường xuyên sát hại người da đỏ khi họ đang ngủ, và bị coi là một Ác quỷ. Người Nhật có một loài thủy long – Kappa – mang tính cách quả báo và đạo đức, với nhiệm vụ là nuốt chửng những cậu bé hư hỏng đi bơi cãi lời cha mẹ dạy bảo, hoặc bơi vào những thời điểm và địa điểm không thích hợp. Không loại trừ khả năng là những mối nguy hiểm đối với trẻ nhỏ như vậy đã khởi sinh ra một vài loài thủy quỷ – có lẽ là những loài được coi là nhỏ bé và tinh quái – ví dụ như các Nixie. Trong một thời gian dài trên bờ biển Baltic, Nixa là phiên bản nữ của “Cựu Nick” (Old Nick), và bị những ngư dân vô cùng khiếp sợ. Bản tính ác độc của ả được thể hiện qua Kelpie của Scotland – một con thủy mã, được tin là sẽ cuốn trôi những kẻ bất cẩn bằng các trận lũ bất ngờ để ăn thịt họ. Tại Đức, từng có một vị nữ thần sông ngòi mà đền thờ tọa lạc tại Magdeburg, cũng là nguồn gốc tên gọi của thành phố này. Có một truyền thuyết kể rằng ả đã xuất hiện tại khu chợ nơi đó trong trang phục của tín hữu Cơ Đốc, nhưng đã bị phát hiện bởi dòng nước không ngừng nhỏ xuống từ góc tạp dề. Ở Đức, các Nixie nhìn chung đóng vai trò tương tự các tiên nữ Na-i-át (naiads) thời cổ đại.26 Tại Nga, những thực thể tương tự được gọi là Rusalkas, còn đáng sợ hơn nhiều.

Tại nhiều vùng thuộc thế giới Cơ Đốc giáo, người ta kể lại rằng những con quỷ này – vốn là quyến thuộc của các nàng Thiên nga (Swan-maidens) sẽ được xem xét trong một chương khác – đã được cải đạo thành những tạo vật thân thiện, thậm chí là sùng đạo, và được làm phép rửa với những thánh danh. Đôi khi có những truyền thuyết tiết lộ sự chuyển đổi này. Chẳng hạn, chuyện kể rằng vào năm 1440, khi các con đê ở Hà Lan bị phá hủy bởi một trận bão dữ dội, nước biển đã tràn ngập các cánh đồng; một vài thiếu nữ ở thị trấn Edam, vùng West Friesland, khi chèo thuyền đi vắt sữa bò đã nhìn thấy một nàng tiên cá đang bị kẹt trong bùn vì nước rất nông. Họ đưa nó lên thuyền và mang về Edam, mặc cho nó quần áo phụ nữ và dạy nó kéo sợi. Nó ăn uống như họ nhưng không thể dạy nói được. Sau đó, nó được đưa tới Haarlem và sống tại đó vài năm, mặc dù vẫn tỏ ra thiên hướng thích nước. Parival, người thuật lại câu chuyện này, kể rằng họ đã truyền đạt cho nó một số khái niệm về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và nó luôn bày tỏ sự tôn kính đầy thành kính mỗi khi đi ngang qua một cây Thập tự giá (Crucifix).
* Tôi giả định rằng câu chuyện trên là thật, vậy Tiên cá tồn tại ở dạng gì, mà tại sao lại không biết đến Thiên Chúa, mà phải đến lúc dạy dỗ mới biết. Điều này chứng tỏ, đây là một “dạng khác” của con Người. Có thể thuộc chủng tộc X, mà tôi đang nghiên cứu trong một Dự án khác.
Một tạo vật khác cùng loài đã bị bắt tại vùng Baltic vào năm 1531, và được gửi làm quà tặng cho Sigismund, Vua của Ba Lan. Tất cả những người trong triều đình đều đã nhìn thấy nó, nhưng nó chỉ sống được ba ngày.

Quái vật Hydra – Quỷ học về Lũ lụt
Dòng thác lũ mà khi bị chặn đứng ở hướng này lại tạo ra nhiều nhánh khác ở hướng khác – vẫn còn lưu dấu trong vô số những danh xưng mang tính quỷ quái được đặt cho các suối nước nóng và những dòng thác vốn thường dâng cao đến mức nguy hiểm. Tại California, các suối nước nóng mang tên “Ấm trà của Ma vương” (Devil’s Tea-kettle) và “Nồi cháo của Ma vương” (Devil’s Mush-pot) lặp lại những cái tên như “Chén rượu của Ma vương” (Devil’s Punch-bowls) ở Châu Âu, cùng vô số những Con đê và Rãnh nước của Ác quỷ khác. Ngọn đồi Thánh Gerard, gần Pesth, nơi vị thánh này đã chịu tử đạo, được tin là đầy dẫy những ác quỷ mỗi khi có nạn lụt đe dọa thành phố; chúng chìm đắm trong những tràng cười hiểm độc và đùa nghịch với những kính thiên văn của đài quan sát, khiến cho những ai nhìn qua chúng sau đó chỉ thấy toàn những điệu nhảy của ma quỷ và phù thủy!27 Tại Buda, phía bên kia sông đối diện với Pesth, có “Rãnh nước của Ác quỷ” nổi tiếng mà cư dân thường dùng làm cống rãnh khi nó khô cạn, biến nơi đây thành một chốn Địa ngục (Gehenna) đầu độc họ bằng những mùi hôi thối; nhưng khi băng tan trên vùng Blocksberg, nó thường trở thành một dòng thác lũ tàn khốc. Vào năm 1874, cư dân đã xây vòm che kín nó để ngăn mùi thối kinh niên, nhưng cái đầu quái vật Hydra bị chặt đứt đó đã mọc lại, và vào tháng Bảy năm 1875, nó đã nuốt chửng một trăm mạng người.28
Những vùng nước Strudel và Wirbel từng một thời hiểm trở trên dòng Danube cũng đầy rẫy những truyền thuyết về quỷ dữ. Từ tác phẩm đáng ngưỡng mộ của Tiến sĩ William Beattie về “Dòng sông Danube”, tôi xin trích dẫn các đoạn sau: – “Sau khi xuôi dòng Greinerschwall, tức những đoạn thác ghềnh của vùng Grein đã đề cập ở trên, dòng sông cuộn chảy trên một không gian rộng lớn, sâu thẳm và gần như tĩnh lặng; sự tương phản này với sự hỗn loạn sắp tới càng làm tăng thêm vẻ hoang dại, bão tố và lãng mạn của nó. Đầu tiên, một tiếng gầm vang rền, trầm đục như sấm xa đập vào tai và thu hút sự chú ý của lữ khách. Tiếng động này tăng dần theo từng giây, và sự xôn xao, khẩn trương hiện rõ trên những bàn tay của thủy thủ đoàn cho thấy cần phải dùng thêm sức lực, sự cảnh giác và thận trọng trong việc điều khiển bánh lái và mái chèo. Nước sông giờ đây đã đổi màu – sủi bọt trắng xóa và dao động như một chiếc vạc đang sôi sùng sục. Ở phía trước và chính giữa dòng chảy, nổi lên một khối đá dựng đứng, cô độc và khổng lồ, được bao quanh bởi rừng cây và trên đỉnh là một tòa tháp đổ nát, nơi dựng một cây Thập tự giá cao vút; vào những giây phút nguy nan, những người lái thuyền thời xưa thường hướng về đó để dâng lời cầu nguyện xin ơn cứu trợ. Lần đầu nhìn thấy cảnh tượng này thường gây ra không ít sự phấn khích và sợ hãi trên tàu; thuyền trưởng ra lệnh phải giữ im lặng tuyệt đối, người lái tàu nắm chặt bánh lái với bàn tay vững chãi hơn, hành khách dạt sang một bên để nhường chỗ cho thủy thủ, trong khi phụ nữ và trẻ em được vội vã đưa vào khoang tàu, đợi chờ kết quả của chuyến hành trình với nỗi lo âu không nhỏ. Mỗi thủy thủ, với chiếc đầu để trần, lầm rầm một lời cầu nguyện với vị Thánh bổn mạng của mình; và rồi con thuyền lao vút qua những con sóng nhấp nhô đang chực chờ đẩy nó vào sự hủy diệt không thể tránh khỏi. Tất cả những sự chuẩn bị này, cộng hưởng với sự hoang sơ của cảnh vật xung quanh, vẻ kinh khiếp của các rặng đá và trạng thái dữ dội của mặt nước, đủ để tạo ra một cảm giác mạnh mẽ ngay cả với những người đã quen với hiểm nguy cả đời; trong khi những bóng ma huyền bí mà sự mê tín đã thêu dệt nên càng phủ một bầu không khí u ám hơn lên toàn bộ khung cảnh.”
Liên quan đến vực xoáy gọi là Wirbel và những tàn tích xung quanh, cùng tác giả viết: “Mỗi pháo đài đổ nát này đều là chủ đề của một truyền thuyết mầu nhiệm được truyền tụng trong mọi mái ấm. Vẻ u sầu và bí ẩn của nơi đây, cùng phong cảnh hoang dại và những tai nạn thường xuyên xảy ra khi đi ngang qua, đã bao trùm nó bằng sự kinh sợ và khiếp hãi; nhưng trên hết, sự mê tín của thời đại đó, niềm tin vào những điều kỳ quái và sự nhẹ dạ của những người lái thuyền đã khiến việc điều hướng qua Strudel và Wirbel trở thành một chủ đề của những chuyện kỳ ảo nhất. Vào ban đêm, những âm thanh vang xa hơn cả tiếng gầm của dòng Danube phát ra từ mọi tàn tích. Những ánh sáng ma mị lóe lên qua các lỗ châu mai và khung cửa sổ, những lễ hội được tổ chức trong các sảnh đường bỏ hoang từ lâu, những kẻ đeo mặt nạ lướt từ phòng này sang phòng khác, những người nhảy điệu waltz điên cuồng theo giai điệu của một dàn nhạc từ địa ngục, những lính canh vũ trang tuần tra trên tường thành, trong khi thỉnh thoảng tiếng binh khí va chạm, tiếng ngựa hí và tiếng la hét của những chiến binh phi nhân thế lại đập vào tai người lái thuyền một cách thất thường. Nhưng tòa tháp nơi những cảnh tượng này diễn ra đáng sợ nhất là tòa tháp trên vùng Longstone, thường được gọi là ‘Tháp của Ác quỷ’, và nó hoàn toàn xứng đáng với cái tên đó – vì tại đây, trong mối thông công mật thiết với chủ nhân của mình, có một ‘Tu sĩ Đen’ (Black Monk) trú ngụ, kẻ có nhiệm vụ thắp lên những ánh sáng và dấu mốc giả dọc theo vực thẳm để dụ tàu thuyền vào vòng xoáy hoặc đâm sầm vào đá ngầm. Tuy nhiên, thực thể này đã bị quấy rầy đáng kể tại nơi ở của mình khi Soliman Đại đế tiến vào vùng này; bởi để đẩy lui đội quân quấn khăn (Hồi giáo), hoặc ít nhất là ngăn chặn bước tiến khải hoàn của họ tới vùng Thượng Danube, cư dân đã được triệu tập dưới lá cờ quốc gia để bảo vệ mái ấm của mình. Các công trình phòng thủ được dựng lên nhanh chóng, ngay cả các nhà thờ và các cơ sở tôn giáo khác cũng được đặt trong tình trạng phòng vệ quân sự; phụ nữ và trẻ em, người già và người bệnh, như đã đề cập trong ghi chép của chúng tôi về Schaumburg, đều được đưa vào các pháo đài và nhờ đó được bảo an khỏi sự hung bạo của quân Hồi giáo (Moslem) đang tiến đến gần. Trong số những điểm mà nỗ lực ngăn chặn kẻ thù diễn ra mạnh mẽ nhất, lối đi qua Strudel và Wirbel đã được làm cho trở nên kiên cố nhất có thể trong điều kiện thời gian và hoàn cảnh lúc bấy giờ. Để cung cấp vật liệu cho công trình, lòng yêu nước trong một thời gian đã chiến thắng sự mê tín, và cái gọi là Tháp của Ác quỷ đã bị phá dỡ để chuyển đổi thành một bức tường phòng thủ kiên cố. Bị trục xuất một cách cưỡng bách như vậy, người ta kể rằng Tu sĩ Đen đã buông một lời nguyền rủa lên những kẻ xâm phạm và đã chọn một nơi ẩn náu mới giữa những hang cùng ngõ hẻm của vùng núi Harz.”
Khi những dòng sông băng tuôn đổ thác nguồn và làm lụt lội dòng Rhone, từ ngàn xưa người ta đã tin rằng đôi khi có thể thấy Chúa Quỷ đang bơi giữa dòng, một tay cầm gươm và tay kia nâng một quả cầu vàng. Vì việc Chúa Quỷ lại tỏ ra thân thiện với nước là điều trái ngược với mọi quan niệm dân gian chính thống, nên danh xưng này hẳn phải là sự thay thế hiện đại cho loài thủy quỷ Rhone thuở trước. Chúng ta có lẽ sẽ tiếp cận gần hơn với hình thái nguyên sơ của niềm mê tín này tại vùng Oberland thuộc Thụy Sĩ; nơi đây giải mã những tiếng động của sông băng Furka (nguồn tiếp nước cho sông Rhone) là tiếng rên siết của những linh hồn ác đức bị đọa đày đời đời phải lao dịch tại đó để điều hướng dòng chảy của con sông; cai quản chúng là một nữ quỷ, kẻ đôi khi hiện thân ngay trước các trận đại hồng thủy, trôi nổi trên một chiếc bè và ra lệnh cho nước dâng cao.

Cũng tồn tại một hình thái thờ lạy quỷ thần liên quan đến thủy triều. Tác giả cuốn ‘Rambles in Northumberland’ đã dẫn lại một truyền thuyết về dòng sông Wansbeck: “Dòng sông này đổ ra biển tại một nơi gọi là Cambois, cách đó khoảng chín dặm về phía Đông, và thủy triều chảy vào sâu trong đất liền cách Morpeth năm dặm. Truyền thuyết kể rằng Michael Scott, một phù thủy lẫy lừng không chỉ ở Scotland, lẽ ra đã có thể dẫn thủy triều về tận thị trấn nếu như lòng can đảm của người thực thi kế hoạch này không bị thối chí. Theo chỉ thị của Michael, sau khi vị pháp sư thực hiện các phép phù chú, người đại diện này phải chạy từ vùng lân cận Cambois đến Morpeth mà không được phép nhìn lại phía sau, và thủy triều sẽ cuộn chảy theo sau anh ta. Sau khi tiến được một quãng đường nhất định, anh ta trở nên kinh hãi trước tiếng gầm thét của sóng nước sau lưng, và vì quên mất lời chuẩn chước, anh đã liếc mắt nhìn qua vai để xem liệu hiểm họa có đang cận kề hay không. Ngay lập tức, dòng triều đang tiến tới bỗng dừng phắt lại, và những thị dân vùng Morpeth đã đánh mất cơ hội biến dòng Wansbeck thành đường thủy lưu thông giữa thị trấn và biển cả. Người ta cũng kể rằng Michael đã định ban một ân huệ tương tự cho cư dân thành Durham bằng cách đưa dòng sông Wear vào hệ thống vận tải của thành phố; nhưng thiện chí của ông, vốn cũng được thực hiện theo cách thức tương tự, đã bị phá hỏng bởi sự hèn nhát của người dẫn đường cho thủy triều.”
Vị vua nhân từ và chính trực Æolus, người đã dạy dân đảo thuật hàng hải, trong sự biến chuyển mang tính thần thoại của mình, đã phải mang lấy bản tính thất thường của những ngọn gió mà ông cai quản; nhưng dù ông có làm đắm hạm đội thành Troy và nhiều con tàu khác, trái tim trần thế cũ kỹ của ông vẫn đáng được tin cậy khi loài chim Halcyon xuất hiện. Người con gái bất hạnh của ông mang tên ấy đã gieo mình xuống biển sau cái chết vì đắm tàu của chồng nàng (Cėyx), và cả hai đã hóa thân thành chim. Người ta tin rằng trong bảy ngày trước và bảy ngày sau ngày ngắn nhất trong năm, khi chim halcyon đang kỳ sinh sản, Æolus sẽ kìm giữ các ngọn gió của mình để biển cả được lặng yên. Âm hưởng của câu chuyện ngụ ngôn này đã được truyền thụ vào một vài biến thể trong dân gian về loài thiên nga. Tại Nga, những cô con gái xinh đẹp của Tsar Morskoi hay Thủy quỷ (trong hình hài thiên nga) đương nhiên được cho là có khả năng tác động đến thủy triều, điều mà những người tắm biển thời nay buộc phải tuân theo. Ở nhiều vùng khác nhau, thủy triều được tin là có mối liên hệ và luôn bày tỏ sự tôn kính đối với loài thiên nga.29 Tôi đã từng gặp một quan niệm như thế tại Anh. Vào ngày tang lễ của Livingstone, đã có một đợt thủy triều bất thường trên sông Thames, vốn đã được dự báo và chuẩn bị trước. Đám đông tụ tập tại Tu viện vào dịp đó đã kéo đến cầu Westminster sau tang lễ để quan sát triều cường, và trong số đó có một vị cao niên không tin vào khoa học đã tuyên bố với nhóm người rằng sẽ không có đợt triều cao nào cả, “bởi vì loài thiên nga đang làm tổ.” Kẻ hoài nghi này đã nhanh chóng bị bẽ mặt bởi kết quả thực tế, và có lẽ một niềm mê tín đã vơi bớt trong vòng tròn những người từng xem ông ta như một bậc hiền triết.

Tầng lớp nông dân Nga sống trong nỗi sợ hãi triền miên trước các Rusalka và Vodyanuie – những thủy thần vốn phục tùng vị thủ lĩnh là Hải vương Tsar Morskoi cục cằn. Để cầu khẩn sự an bình trước bộ tộc này, người nông dân cẩn trọng không bao giờ tắm mà thiếu một cây Thánh giá đeo trên cổ, cũng không lội qua suối trên lưng ngựa mà không làm dấu Thánh giá trên mặt nước bằng một lưỡi hái hay con dao. Tại Ukrain, những thủy quỷ này được cho là linh hồn biến tướng của Pharaoh và đạo quân của ông khi xưa bị chết đuối, và số lượng của chúng tăng lên bởi những người tự trầm mình tự sát. Ở Bohemia, các ngư dân đôi khi từ chối cứu giúp một người đang đuối nước vì sợ rằng thần Vodyany sẽ phẫn nộ và ngăn cản loài cá, vốn thuộc quyền cai quản của hắn, lọt vào lưới của họ. Cơn thịnh nộ của những thực thể này được biểu thị bởi sự trỗi dậy của sóng nước và bọt trắng; và chúng được cho là đặc biệt độc ác vào mùa xuân, khi những dòng thác và lũ lụt đổ về từ tuyết tan. Những quái vật không rõ hình hài mà Beowulf đã tiêu diệt, như Grendel và mẹ của nó, được Simrock giải mã như là hiện thân của biển cả chưa được thuần hóa và những trận lụt bão xâm chiếm vùng bờ biển thấp phẳng, sự tàn phá của chúng đã khiến Faust kinh hãi (Phần II, màn iv), và chính trong cuộc chiến đấu với chúng mà năng lực hủy diệt trước đây của ông đã tìm thấy sứ mệnh của mình.
Biển quét qua, ngàn phương tuôn chảy,
Tự thân không quả, chỉ gieo rắc cằn khô;
Nó vỡ tan, dâng cao, cuộn trào và nhấn chìm
Những cõi bờ hoang vu, tiêu điều xơ xác….
Hãy để niềm hân hoan cao cả đó mãi là của ta,
Để ngăn trùng dương lừng lẫy khỏi bãi bờ,
Để giới hạn và ngăn chặn sự hoang tàn của nước,
Và đẩy lùi nó về phía xa thẳm tự thân!
Trong công cuộc dũng cảm ấy, Faust đã có nhiều người tiền nhiệm, mà nghệ thuật và lòng can đảm của họ đã trở thành tượng đài trong những câu chuyện thần tiên đẹp đẽ nhất về tất cả các quyền năng nguyên tố mà nỗi sợ hãi từng coi là quỷ dữ. Pavana, ở Ấn Độ, sứ giả của các vị thần, cưỡi trên những ngọn gió, và trong bốn mươi chín hình thái của mình (tương ứng với các điểm trên la bàn của người Hindu) canh giữ trái đất. Solomon cũng vậy, đã du hành trên chiếc thảm thần dệt bằng những ngọn gió, thứ vẫn phục vụ cho mục đích của các bậc Hiền triết. Từ đại dương sục sôi, nữ thần thịnh nộ Lakshmi đã trỗi dậy (sau khi nguồn gốc mặt trời bị thất truyền trong huyền thoại); và từ bọt biển, Aphrodite – hiện thân của Cái Đẹp – đã nảy sinh. Những hình hài mỹ lệ này đã có người thờ phụng chân chính nơi những người phương Bắc, kẻ đã gửi gắm vào gió và sóng đã được thuần phục bài ca của mình, như cách Emerson đã tìm thấy:
Ngọn gió cuồng làm bạn đắm trên cát,
Lại giúp những tay chèo của ta vững lái;
Trận bão tố là thủy thủ đắc lực nhất của ta,
Và thúc đẩy ta đi đến nơi ta muốn.
Quỷ học và Tà thuyết, Conway, V.I, P.II, C.IV.
Có chú thích và hình ảnh bởi Pao Pevil.
- ‘Scenes and Legends of the North of Scotland.’ Nimmo, 1876. ↩︎
- Mô tả này trong rất giống với những mô tả về UFO, nhưng chỉ khác ở những xác chết. ↩︎
- ‘Rig-Veda,’ ii. 33. Tr. by Professor Evans of Michigan. ↩︎
- ‘Rig-Veda,’ i. 114. ↩︎
- Wessamonny, hay còn được gọi là Vessavana, trong văn hóa dân gian và thần thoại Sri Lanka, thường được mô tả là hoàng tử quỷ, người cầm thanh kiếm vàng và xuất hiện cùng với các yếu tố như mắt của Siva. ↩︎
- ‘Jour. Ceylon R. A. Soc.,’ 1865–66. ↩︎
- Welcker, ‘Griechische Götterlehre,’ vol. i. p. 661. ↩︎
- Moffat, p. 257. ↩︎
- Livingstone, p. 124. ↩︎
- Pöppig, ‘Reise in Chile,’ vol. ii. p. 358. ↩︎
- Eyre, vol. ii. p. 362. ↩︎
- Tylor, ‘Early Hist.,’ p. 359. ↩︎
- Khi tôi truy nguyên về tính Thiên thần của Quỷ ma, tôi thấy các Thánh cho rằng không có Mô thể cho Thiên thần, thì như tương đồng rằng Quỷ ma cũng vậy, nhưng tại sao trong các câu chuyện của Kitô giáo lại có hình dáng của Quỷ ma? Dùng để ẩn dụ hay sự thật? ↩︎
- Vì vậy, điều này xác nhận giả thuyết của Wachsmuth trong tác phẩm ‘Das alte Griechenland im neuen’, trang 23. Elias cũng có thể dễ dàng được liên tưởng tới cái tên Æolus. ↩︎
- ‘Rig-Veda,’ x. (Muir). ↩︎
- John iii. 8. ↩︎
- ‘The Wheel of the Law,’ by Henry Alabaster, Trübner & Co. ↩︎
- ‘Rig-Veda,’ v. 83 (Wilson). ↩︎
- Theo ghi chép của Sigmund von Herberstein trong tác phẩm Rerum Moscoviticarum Commentarii (Ghi chép về các vấn đề vùng Moscovy) năm 1549, từng nổi tiếng là những người “vô cùng hào hiệp và trung thực”. Tuy nhiên, Herberstein cũng nhấn mạnh rằng sau khi bị Đại công quốc Moscow chinh phạt vào cuối thế kỷ 15, phẩm chất của họ đã thay đổi hoàn toàn do ảnh hưởng từ sự cai trị khắc nghiệt của người Moscow. Ông viết rằng sự trung thực ban đầu đã bị thay thế bởi những thói hư tật xấu và sự gian trá của những kẻ mới đến. ↩︎
- ‘Major’s Tr.,’ ii. 26. ↩︎
- Wierus’ ‘Pseudomonarchia Dæmon.’ ↩︎
- Ghi nhớ để nghiên cứu sau, trong một đề tài khác của tôi. ↩︎
- ‘Songs of the Russian People,’ by W. R. S. Ralston, M.A. ↩︎
- Ajax là một vị anh hùng trong thần thoại Hy Lạp. ↩︎
- Thánh Augustine có phân tích vấn đề này trong Phần I – Quyển VIII, đọc thêm Ebook trong kho tư liệu của tôi. ↩︎
- De Plancy. ↩︎
- Nhờ cách thức này, một người nọ đã nhìn thấy vợ mình đứng trong hàng ngũ những phù thủy, từ đó phát hiện ra bản chất bất khiết của bà ta; chính điều này đã làm nảy sinh một câu ngạn ngữ tại địa phương rằng những người chồng chớ có mải mê ngắm sao vào Đêm Vọng lễ Thánh Gerard. ↩︎
- London ‘Times,’ July 8, 1875. ↩︎
- Cùng thần thoại này, ở Miền Tây Việt Nam, có vùng Sông Cái (con sông rất rộng lớn), nước ôn hòa, nhưng khi có mưa bão, nhiều lái buôn trên ghe nhìn thấy cặp Ngỗng giữa sông, báo hiệu nguy hiểm ở giữa dòng, vì có xoáy nước rất mạnh, khiến ai cũng chạy né vào bờ càng nhanh càng tốt. ↩︎
