Demonology and Devil-lore, M. D. Conway, V.I, P.II, C.V

by Pao Pevil
87 views

Cần phân biệt rạch ròi giữa các quỷ thú – những loài mà tiếng xấu bắt nguồn từ chính bản tính tự nhiên có thể gây hại cho con người – với những hình thái bị “quỷ hóa” do liên đới với các nhân vật hoặc tư tưởng thần thoại. Sư tử, hổ và sói là những ví dụ tiêu biểu cho loại thứ nhất; trong khi hươu, ngựa, cú và quạ lại thuộc về loại thứ hai.

Tuy nhiên, có những hoàn cảnh khiến việc duy trì ranh giới này trở nên rất khó khăn. Nếu phải vạch ra một lằn ranh, thì đó là ranh giới giữa một bên là những tác động hạ cấp vô bờ bến, cố tìm ra điểm xấu ở những con vật mà nếu không vì những liên tưởng tồi tệ thì chẳng mấy ai bận tâm; và một bên là lối nói uyển chuyển, biến những loài thú có hại thành những thực thể hiền lành bằng cách xoáy sâu vào một vài đặc tính nhỏ nhặt của chúng.

Có một vài loài động vật nguy hiểm rõ rệt, chẳng hạn như rắn, nơi mà chúng ta dễ dàng định hướng; ta có thể nhận ra nỗi sợ hãi đã tâng bốc nó thành một thiện thần [agathodemon] và nỗi sợ đã vơi bớt khi kết tội nó là loài bị nguyền rủa.1 Nhưng ta phải nói sao về loài Dê? Phải chăng thực sự có điều gì đó trong mùi hôi, trong thịt của chúng khi lần đầu được ăn, trong thói quen húc nhau, hay việc chúng phá hoại cây trồng đã khiến chúng ban đầu bị xếp vào hàng thú vật ô uế? Hay nó bị quỷ hóa đơn thuần vì vẻ ngoài kỳ quái và rậm lông? Lời giải thích nào cho tiếng xấu của người bạn trong gia đình ta là loài Mèo? Liệu đó là sự thừa hưởng từ tổ tiên hung dữ nơi rừng rậm? Hay lần đầu tiên được gợi ra từ những tiếng gào đêm kinh hoàng giống tiếng người, bóp nghẹt giấc ngủ? Hay đơn giản là nó phải chịu đựng một lời nguyền thần học đổ xuống đầu những con mèo được cho là đã kéo cỗ xe của các nữ thần Sắc đẹp?

Chó quỷ, nếu xét kỹ, còn là một chủ đề phức tạp hơn nhiều. Người nghiên cứu thần thoại và văn học dân gian sẽ nhanh chóng trở nên quen thuộc với những nguồn cơn nhỏ nhặt mà từ đó tuôn ra những dòng thác mê tín khổng lồ. Tiếng gà gáy thách thức mặt trời soi rọi vạn vật chắc hẳn đã khởi đầu cho nhiều giai thoại đầy điềm gở của nó, từ Luật Manu cho đến những con quỷ đầu gà được vẽ trên tường các nhà thờ ở Nga.

Tranh vẽ những con Quỷ đầu gà trên các Thánh điện ở Nga, bởi Gemini.
Hình 1. Tranh vẽ những con Quỷ đầu gà trên các Thánh điện ở Nga, bởi Gemini.

Những chiếc rễ có thịt và chia nhánh của một loài cây gây buồn ngủ đã tạo nên cả một hệ Thần thoại về Cây Nhân sâm [Mandrake] khổng lồ, vốn là chủ đề của nhiều cuốn sách mà đến nay vẫn chưa được khám phá hết. Người Ý có câu: “Một trò gian xảo của con nhím còn đáng giá hơn nhiều trò của con cáo“; thế nhưng chính thói quen hoạt động về đêm, tập tính ngủ đông và vẻ ngoài cổ quái nói chung của loài nhím khiêm nhường này, chứ không phải bản tính lén lút săn trứng và gà con, mới là thứ đưa nó lên hàng quỷ dữ. Trong nhiều câu chuyện ngụ ngôn dân gian, con vật nhỏ bé này chứng tỏ mình là đối thủ đáng gờm hơn cả sói và rắn. Người ta kể rằng chính trong hình dạng một con nhím mà Ác quỷ đã cố gắng dẫn nước biển tràn qua vùng Brighton Downs, một âm mưu đã bị ngăn chặn nhờ ánh sáng được mang đến, dù tính chất nghiêm trọng của kế hoạch này vẫn còn được chứng thực qua địa danh Vực Ác quỷ [Devil’s Dyke]. Có một truyền thuyết cổ xưa kể rằng khi Ác quỷ lẻn vào Tàu Nô-ê, hắn đã cố làm đắm tàu bằng cách khoan một cái lỗ; nhưng mưu đồ này đã thất bại và nhân loại được cứu sống nhờ con nhím đã tự nhét mình vào lỗ thủng đó. Trong câu chuyện ở Brighton, Ác quỷ dường như đã nhớ lại thất bại trước đây trong việc dìm chết loài người, nên đã chiếm lấy chính hình dạng của kẻ từng đánh bại hắn.

Hình 1. Quỷ Nhật Bản, bởi Gemini.
Hình 2. Quỷ Nhật Bản, bởi Gemini.

Con Cáo, hiện thân của sự xảo quyệt, giữ một vị trí trọng yếu trong đức tin nguyên thủy của người Nhật gần giống như loài Rắn đối với những dân tộc từng tôn thờ nó cho đến khi đủ can đảm để nguyền rủa nó. Trong nhiều bức tranh cổ về quỷ Nhật Bản, người ta thường có thể phát hiện ra giữa những đặc điểm của người, sói hoặc các loài khác, có một vài nét của kitsune (cáo). Nó luôn là linh hồn của con quỷ ba mắt của Nhật Bản (hình 2). Nó là vị “Tể tướng” thông thái, như cách gọi trong cuốn Desatir của Ba Tư, và trên thực tế là kẻ gánh tội thay cho người Nhật. Nếu một con cáo xuất hiện ở bất kỳ khu xóm nào, thì rắc rối tiếp theo sẽ được đổ lỗi cho sự viếng thăm của nó; và trong những dịp như vậy, những người chịu nạn cùng bạn bè của họ sẽ tìm đến một gốc cây cổ thụ xù xì nào đó, nơi con cáo được cho là đang cư ngụ, để làm lễ xoa dịu nó, giống như cách người ta làm với loài rắn ở các vùng khác. Ở Nhật Bản, cáo không bị coi là luôn luôn gây hại, nhưng nhìn chung là vậy. Tuyệt đối không được giết cáo trong bất kỳ trường hợp nào. Nhờ sự mê tín mà được tha mạng, loài cáo sinh sôi nảy nở đủ để cung cấp chất liệu dồi dào cho việc duy trì bản tính quỷ dữ của nó. “Hãy bắt cho chúng tôi những con cáo, những con cáo nhỏ phá hoại vườn nho2 là một lời khuyên bị đảo ngược ở Nhật Bản. Sự tương đồng giữa tính xảo quyệt được tôn trọng ở con vật này và loài rắn được sùng kính ở những nơi khác đã được ông Fitz Cunliffe Owen xác nhận; ông cho tôi biết rằng người Nhật sẽ không giết ngay cả những loài rắn độc bò tự do giữa những ngôi đền Phật giáo đang mục nát ở Nikko – một trong những nơi linh thiêng nhất Nhật Bản, nơi từng là chỗ trú của tám nghìn tăng sĩ. Loại cáo đỏ rất phong phú ở Nhật Bản, và tiếng kêu giống người của nó vào ban đêm gần nơi ở của con người là thứ dễ dàng thúc đẩy những niềm tin mê tín.

Hơn thế nữa, thần thoại cung cấp nhiều minh chứng về một xu hướng đáng ghi nhận giữa các bộ tộc thô sơ: họ dành sự tôn kính hoặc sợ hãi đặc biệt cho bất kỳ lực lượng nào trong tự nhiên tinh tế hơn là sức mạnh cơ bắp thuần túy. Emerson nói: “Cáo xảo quyệt đến thế là vì chúng không mạnh mẽ.” Trên con quỷ Nhật Bản của chúng ta, kẻ mà chỉ riêng ba con mắt đã kết nối nó với thị lực siêu nhiên được gán cho loài cáo, thì chiếc môi sứt hiện lên rất rõ rệt. Con vật nhỏ bé đó, loài Thỏ, gắn liền với một hệ thần thoại rộng lớn, có lẽ bởi vì từ chính sự yếu ớt của mình, nó đã tạo ra những nguồn lực sinh tồn chính yếu: sự nhút nhát, cảnh giác và nhanh nhẹn. Sự mê tín về loài thỏ cũng được tìm thấy ở Phi châu. Cùng con vật ấy lại là vị thiện thần rất được sùng kính của người Kalmyks, họ gọi nó là Sákya-muni (Đức Phật), và kể rằng khi ở trần gian, nó đã hiến thân mình làm thức ăn cho một người đàn ông đang chết đói, vì hành động nhân từ đó mà nó được đưa lên cai quản mặt trăng, nơi họ tuyên bố có thể nhìn thấy nó. Truyền thuyết này có lẽ bắt nguồn từ từ ngữ Phạn sasin (mặt trăng), nghĩa đen là “vết hình thỏ”. Sasa nghĩa là “thỏ”.3 Pausanias kể lại câu chuyện về nữ thần mặt trăng chỉ dẫn cho những người tha hương xây dựng thành phố của họ ở nơi họ nhìn thấy một con thỏ chạy vào ẩn náu trong một bụi cây sim.4

Trong hệ động vật quỷ dữ của Nhật Bản, một loài vật xảo quyệt khác cũng góp mặt – đó là Chồn. Tên của con quỷ này là “Chồn Lưỡi Liềm” [kamaitachi], và nó dường như cũng đóng vai trò của một kẻ gánh tội thay. Theo ngôn ngữ của một báo cáo từ Nhật Bản: “Khi một người bị trượt guốc gỗ, ngã và bị sứt mặt trên đá dăm, hoặc khi một người đi chơi đêm trong lúc lẽ ra phải ở nhà, trở về với gương mặt mới bị sẹo, thì vết thương đó được quy cho tác động của loài chồn tàng hình độc ác và chiếc liềm sắc nhọn của nó.” Trong một truyền thuyết của thổ dân Mỹ, hai chị em quỷ cũng thường mang hình dạng của loài chồn.

Cảm thức dân gian làm nền tảng cho phần lớn việc thờ cúng động vật thời cổ đại có lẽ chính là thứ được phản chiếu trong những quan niệm của người Nhật ngày nay, như được kể lại trong đoạn trích dưới đây từ một cuốn sách thú vị:

Một trong những vị khách này là một ông lão, bản thân ông lúc đó đang là nạn nhân của một niềm tin mê tín phổ biến rằng người chết sẽ quay lại những nơi họ từng sống trong hình hài của các loài vật khác nhau. Chúng tôi nhận thấy ông không được vui vẻ như thường lệ và đã gặng hỏi để ông trút bầu tâm sự. Ông nói ông đã mất đứa con trai nhỏ tên là Chiosin, nhưng đó không hẳn là nguyên nhân khiến ông đau khổ bằng cái cách nực cười mà vợ ông – với sự ủng hộ của cả một nhóm các bà lão đã dọn đến nhà ông để an ủi bà – đang hành xử. ‘Họ đã làm gì vậy?’ chúng tôi hỏi một cách đầy cảm thông. ‘Ôi,’ ông trả lời, ‘bất kỳ con vật quái quỷ nào đến nhà tôi, họ đều gào lên: “Chiosin, Chiosin đã về!” Thế là cả nhà nhung nhúc nào mèo, nào chó, nào dơi – vì họ bảo họ không chắc con nào là Chiosin, nên tốt nhất là cứ tử tế với tất cả còn hơn là mạo hiểm đối xử tệ với nó; hậu quả là lũ súc vật này xơi sạch cơm thịt của tôi, còn tôi thì bị tống ra khỏi cửa và bị gọi là người cha nhẫn tâm vì đã lỡ tay giết một con muỗi vừa đốt mình!‘”5

Những hành vi kỳ lạ và không thể giải thích được của động vật trong các trường hợp sợ hãi, hoảng loạn hoặc đau đớn thường bị các chủng tộc thiếu hiểu biết quy cho việc bị quỷ ám. Câu chuyện Ác quỷ nhập vào đàn lợn và lao chúng xuống biển được kể trong Tân Ước cũng mang bản chất này. Người ta nói rằng ngay cả hiện nay ở một vài vùng của Scotland, các cô gái vắt sữa vẫn mang theo một nhành cây thanh trà [rowan] thần kỳ để xua đuổi con quỷ đôi khi xâm nhập vào bò. Giáo sư Monier Williams viết từ Nam Ấn Độ: “Khi tôi và những người bạn đồng hành suýt chút nữa đã lao xuống vực vì mấy con ngựa dở chứng trên một con đèo gần Poona hôm nọ, chúng tôi được bảo rằng đoạn đường cụ thể này bị ma quỷ ám, những kẻ thường xuyên gây ra các tai nạn tương tự; và chúng tôi được cho biết rằng lẽ ra nên cầu xin Ganesa, con trai thần Siva, cùng tất cả đạo quân tinh linh của ngài trước khi khởi hành.” Vị học giả này cũng cho chúng ta biết rằng các linh hồn hộ vệ hay các “Mẫu” thường ám ở hầu khắp các vùng trên Bán đảo Ấn Độ được tin là hay cưỡi ngựa đi lại, và nếu họ tức giận, họ sẽ gieo rắc tai ương và bệnh tật. Do đó, một lữ khách vừa đến từ châu Âu sẽ bị giật mình và bối rối bởi sự xuất hiện của những con ngựa bằng đất nung thô kệch, thường to bằng kích thước thật, được dân chúng đặt quanh các đền thờ giữa những cánh đồng như những vật phẩm cúng tế để cầu an hoặc để thực hiện lời thề trong những giai đoạn bệnh tật.6

Đây cũng là niềm tin của người Corinth về Taraxippos, hay bóng ma của Glaucus, kẻ vốn bị xé xác bởi những con ngựa mà hắn đã dùng để đua và từng cho ăn thịt người để chúng hăng máu hơn; bóng ma đó vẫn quanh quẩn ở eo đất Isthmus và làm kinh động lũ ngựa trong các cuộc đua.

Có một truyền thuyết hiện đại ở vùng Viễn Tây (Mỹ) về một con ngựa được gọi là “Ác quỷ Trắng”, con vật vì trả thù cho những tổn hại đối với đồng loại đã giết chết nhiều người bằng cách cắn và giẫm đạp, và chính nó cũng bị giết sau khi thách thức nhiều nỗ lực vây bắt; nhưng trong số rất nhiều truyền thuyết cổ xưa về ngựa quỷ, có rất ít câu chuyện gợi ý rằng loài vật này có ác ý bẩm sinh với con người. Đặc tính xấu xa đôi khi của nó đơn giản là bắt nguồn từ sự liên đới với con người, và vì thế sẽ được bàn đến sau. Cũng vì lý do tương tự, loài Dê cũng sẽ được xử lý sau này, với tư cách là một loài vật biểu tượng. Người ta cũng gặp một vài huyền thoại liên quan đến những đặc điểm khó chịu của nó. Ở Nam Guinea, mùi hôi của dê được giải thích bằng một câu chuyện kể [Saga] rằng tổ tiên của chúng đã mạo muội xin một nữ thần loại thuốc mỡ thơm của bà, và bà đã tức giận bôi lên nó một loại thuốc có mùi ngược lại. Người ta cũng nói rằng nó bị những người thờ thần Bacchus coi là một con quỷ vì nó gặm nát những vườn nho; và từ đó đã khởi nguồn cho loài Trageluphoi, hay những quái vật nửa dê nửa hươu được Plato nhắc đến,7 và cũng cho chúng ta từ “bi kịch” [tragedy].8 Nhưng những đặc điểm như vậy của loài Dê có rất ít liên quan đến mối quan hệ quan trọng của nó với Thần thoại và Quỷ học.

Hình 3. Quỷ Trageluphoi, hay quái vật nửa dê nửa hươu được Plato nhắc đến, bởi Gemini.
Hình 3. Quỷ Trageluphoi, hay quái vật nửa dê nửa hươu được Plato nhắc đến, bởi Gemini.

Trong danh sách các loài động vật bị quỷ hóa do liên đới cũng phải kể đến loài Hươu. Chắc chắn những người mẹ, người vợ hay người yêu đầy lo âu của các thợ săn trẻ tuổi nông nổi đã sử dụng những câu chuyện cổ về những con hươu cái xinh đẹp ở sâu trong rừng thẳm biến thành quỷ dữ và ăn thịt những kẻ đuổi theo chúng9 để làm lời răn đe; nhưng thực tế là những con hươu đó phải tự biến đổi mình để làm việc ác, đó là một sự chứng thực đủ rõ về bản tính để ngăn chúng bị xếp vào hàng quỷ thú thực thụ – tức là những loài mà tự thân tính khí gây hại cho con người đã cung cấp nền tảng cho một sự hình dung về quỷ dữ.

Sẽ không có gì ngạc nhiên khi loài Chuột chiếm một vị trí đáng nể trong Quỷ học. Cái rùng mình mà một số người yếu tim cảm thấy khi nhìn thấy ngay cả một con chuột nhắt vô hại chính là tàn dư từ thời người ta tin rằng linh hồn những kẻ chưa được giải tội hoặc những đứa trẻ chưa rửa tội thường ám chính ngôi nhà cũ của mình trong hình hài này; và có lẽ khó mà ước tính được có bao nhiêu câu chuyện ma đã bắt nguồn từ những tiếng chạy nhảy thình thịch trong đêm của chúng.

Nhiều truyền thuyết kể về sự thoát xác của những linh hồn tội lỗi khỏi miệng người dưới hình dạng một con Chuột nhắt. Trong các cuộc chiến tranh thời Napoléon thuở đầu, chuột nhắt được sử dụng ở miền Nam nước Đức như những kẻ tiên tri: người ta bôi mực vào chân chúng rồi thả lên bản đồ châu Âu để xem quân Pháp tử thần sẽ tiến đánh vào đâu. Chúng có được sự linh thiêng này nhờ một chuỗi các liên tưởng về sức mạnh kéo dài từ câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ về con chuột cứu voi và sư tử bằng cách gặm đứt những sợi dây thừng đang trói buộc chúng. Trận chiến giữa Ếch và Chuột cũng được cho là của Homer. Người ta kể rằng chuột đã tiên báo về cuộc nội chiến đầu tiên ở Rome bằng cách gặm những vật phẩm bằng vàng trong đền thờ.

Chuột xuất hiện trong nhiều truyền thuyết với tư cách là những kẻ báo thù. Những người chú của Vua Popelus II, bị ông ta và vợ sát hại rồi ném xuống hồ, đã hiện hồn thành lũ chuột và gặm nhấm nhà vua cùng hoàng hậu cho đến chết. Kết cục tương tự cũng ập đến với Miskilaus của Ba Lan, thông qua hóa thân của những góa phụ và trẻ mồ côi mà hắn từng hãm hại. Tháp Chuột [Mouse Tower], đứng sừng sững giữa dòng Rhine, là đài tưởng niệm bị ám của Tổng giám mục Hatto tàn ác vùng Mainz; vào năm 970, ông ta đã lừa những người dân đang bị nạn đói bủa vây vào kho thóc của mình, sau đó khóa chặt cửa và thiêu sống họ. Nhưng sáng hôm sau, một đạo quân chuột, sau khi ăn sạch ngô trong các kho lẫm của ông ta, đã phủ đen các con đường dẫn đến cung điện. Vị giáo chủ tìm cách lẩn trốn trong tòa Tháp, nhưng chúng đã bơi theo, gặm xuyên qua những bức tường và ăn thịt ông ta.10

Thánh Gertrude, khoác trên mình chiếc áo choàng tang lễ của nữ thần Holda, chỉ huy một đội quân chuột nhắt. Ở khía cạnh này, bà kế thừa vị trí của Người thổi sáo thành Hamelin [Pied Piper of Hamelin], kẻ cũng dẫn dụ những đứa trẻ đi mất; và người bạn tài hoa của tôi, ông John Fiske, gợi ý rằng đây có thể là lý do tại sao các cô hầu gái người Ireland thường tỏ ra kinh hãi tột độ khi thấy một con chuột.11 Việc chăm sóc trẻ nhỏ thường được giao phó cho chúng, và sự xuất hiện của chuột nhắt từ xưa đã tiên báo về sự hiện diện của kẻ bắt chuột siêu nhiên và người dẫn hồn [psychopomp]. Pliny nói rằng vào thời của ông, việc bắt gặp một con chuột trắng được coi là điềm may. Người dân vùng Bassorah luôn cúi chào những con vật đáng kính này khi nhìn thấy chúng, chắc hẳn là để cầu xin sự che chở của chúng.

Sư tử là biểu tượng của uy quyền và của mặt trời trong vinh quang rực rỡ nhất (ứng với cung Sư Tử trong hoàng đạo), dù đâu đó bản chất quỷ dữ nguyên thủy của nó vẫn lộ diện – như trong các cuộc chiến của thần Indra, Samson và Herakles với những con sư tử hung dữ. Lối nói uyển chuyển, theo một nghĩa nào đó, đã thực hiện đúng điều kiện trong câu đố của Samson – Vị ngọt đến từ kẻ mạnh – và đã mang mật ong ra từ con Sư tử. Bản tính tàn ác của nó đã được gán một cách tinh vi cho sao Thiên Lang [Sirius – Sao Chó], ngôi sao bị quy trách nhiệm cho hạn hán và bệnh sốt rét trong “những ngày nắng nóng” [dog-days] (khi mặt trời nằm ở cung Sư Tử); nhưng sự thật nguyên thủy được ngụ ý trong một vài câu chuyện ngụ ngôn như chuyện về Aristæus, người được sinh ra sau khi mẹ mình được cứu thoát khỏi con sư tử Lybia, và được thờ phụng ở Ceos như một vị cứu tinh khỏi cả hạn hán lẫn sư tử. Hình ảnh Sư tử phủ phục dưới chân nữ thần Doorga xinh đẹp ở Ấn Độ, xuất hiện trở lại khi kéo cỗ xe của nữ thần Aphrodite, là biểu trưng cho quyền năng của cái đẹp, chứ không phải như Emerson giải thích rằng cái đẹp phụ thuộc vào sức mạnh. Cỗ xe của Freyja, nữ thần Venus phương Bắc, lại được kéo bởi những con Mèo – những hình hài thu nhỏ từ những chiến mã của người chị em phương Nam.

Chính qua những con đường này mà loài Mèo bắt đầu đóng những vai trò đôi khi có lợi trong văn học dân gian Nga, và ở một mức độ nào đó là Đức, Pháp và Anh – ví dụ như Mèo đi hiaWhittington và con mèo của ông, và truyện Nàng Mèo Trắng của Madame D’Aulnoy. Những đặc tính quỷ dữ của loài mèo phá hoại đã được thừa kế bởi mèo đen – hoặc mèo vằn, như trong vở Macbeth. Ở Đức, việc một con mèo tiến đến gần giường bệnh là điềm báo tử; nằm mơ thấy mèo là một điềm xấu. Ở Hungary, người ta nói rằng mọi con mèo đen đều trở thành phù thủy khi được bảy tuổi. Đó là con ngựa cưỡi ưa thích của phù thủy, nhưng đôi khi có thể cứu nó khỏi sự nô dịch đó bằng cách rạch một hình chữ thập lên da. Một vết cào từ mèo đen được cho là khởi đầu của một lời nguyền chết chóc.

De Gubernatis12 có một suy luận rất tò mò về nguồn gốc của câu chuyện ngụ ngôn quen thuộc Lũ mèo Kilkenny [Kilkenny Cats], mà ông truy nguyên từ niềm tin mê tín của người Đức: họ khiếp sợ cuộc chiến giữa những con mèo vì coi đó là điềm báo tử cho kẻ chứng kiến; và ông tìm thấy niềm tin này được phản chiếu trong “trò chơi linh hồn” của trẻ em vùng Tuscany, trong đó quỷ dữ và thiên thần được cho là tranh giành linh hồn. Tác giả nghĩ rằng đây có thể là một kết quả của cuộc chiến giữa Đêm tối và Hoàng hôn trong Thần thoại; nhưng nếu có thể truy tìm mối liên hệ, nó có lẽ sẽ được chứng minh là bắt nguồn từ cuộc đấu tranh giữa hai thiên sứ của Cái Chết, một biến thể của câu chuyện này gắn liền với truyền thuyết về sự tranh giành thi hài của Moses. Sách Enoch nói rằng Gabriel đã được cử đến trước trận Đại hồng thủy để kích động những gã khổng lồ ăn thịt người tiêu diệt lẫn nhau. Trong một bức tranh Ba Tư cổ mà tôi sở hữu, các quái thú đang xâu xé lẫn nhau, trong khi nạn nhân của chúng, giống như Daniel, lại không hề hấn gì. Ý tưởng này rất tự nhiên và chẳng cần phải truy tìm đối chiếu quá xa xôi.

Tiến sĩ Dennys cho chúng ta biết rằng ở Trung Quốc tồn tại một niềm tin mê tín y hệt như ở Scotland về điềm gở khi một con mèo (hoặc chó) nhảy qua xác chết. Brand và Pennant đều đề cập đến điều này, Pennant còn cho biết thêm rằng con mèo hoặc con chó nào lỡ làm vậy sẽ bị giết không nương tay. Sự thật này dường như cho thấy nỗi sợ hãi dành cho người sống, e rằng linh hồn người chết sẽ nhập vào con vật và trở thành một trong vô số những con quỷ thuộc loại người sói hoặc ma cà rồng. Nhưng nguồn gốc của niềm tin mê tín này chắc chắn nằm ở quan niệm của người Slav: nếu một con mèo nhảy qua xác chết, người quá cố sẽ trở thành ma cà rồng.

Ở Nga, loài mèo có danh tiếng tốt hơn một chút so với hầu hết các quốc gia khác. Nhiều nông dân ở vùng lân cận Moscow quả quyết với tôi rằng trong khi họ không bao giờ sẵn lòng ở lại một nhà thờ có con chó đi vào, họ lại coi đó là điềm lành nếu một con mèo đến nhà thờ. Một cụ bà gần Moscow kể với tôi rằng khi Ác quỷ cố lẻn vào Thiên đàng, hắn đã mang hình dạng một con chuột: Chó và Mèo canh giữ cổng, con Chó đã để kẻ thủ ác đi qua, nhưng con Mèo đã vồ lấy hắn, và nhờ đó ngăn chặn được một âm mưu xảo quyệt khác nhằm phá hoại hạnh phúc của loài người.

Sự mê tín về loài Mèo luôn mạnh mẽ tại Anh Quốc. Thực vậy, theo một nghĩa nào đó, đúng như lời Howell già đã viết (năm 1647) – “Chúng ta không cần phải vượt biển để tìm ví dụ về loại này, chúng ta có quá nhiều (Chúa ơi) ngay tại quê nhà: Vua James trong một thời gian dài đã miễn cưỡng tin rằng có phù thủy; nhưng sự việc xảy đến với những đứa con của Lãnh chúa Francis vùng Rutland đã thuyết phục ngài, những đứa trẻ bị phù phép bởi một mụ già từng là người hầu ở Lâu đài Belvoir, kẻ vì bất mãn đã giao kèo với Ác quỷ – kẻ trò chuyện với mụ trong hình hài một con Mèo tên là Rutterkin – để hãm hại những đứa trẻ đó chỉ vì lòng ác độc và sự thèm khát trả thù.” Đáng sợ thay khi nghĩ rằng đã có biết bao người phụ nữ nghèo khổ bị thiêu sống như phù thủy mà nhân chứng chính chống lại họ lại là con mèo cưng của chính mình. Sẽ là một nghiên cứu tâm lý thú vị nếu ta truy tìm xem niềm tin mê tín này còn sót lại bao nhiêu ngay cả trong những trí tuệ khoa học – như trong những lời mắng nhiếc loài mèo của Buffon, hay trong câu chuyện đáng kinh ngạc mà ông Wood kể về một con mèo nhìn thấy ma (năm 1877)!

Con Chó, người bạn trung thành lâu đời của con người, và thậm chí có lẽ vì mức độ mà nó tiếp thu cung cách của chủ nhân, nên nó đã có một lịch sử quỷ học đồ sộ.

Trong các câu chuyện của người Semite, có nhiều tình tiết chỉ ra con đường mà từ “chó” trở thành từ đồng nghĩa với kẻ ngoại đạo trong tiếng Hồi giáo; và con chó duy nhất tên là Katmir, kẻ trong truyền thuyết Ả Rập được phép vào Thiên đàng vì đã trung thành canh gác suốt ba trăm linh chín năm trước hang động của Bảy người ngủ,13 hẳn đã trôi dạt đến với người Hồi giáo từ Ấn Độ, giống như câu chuyện về Những người ngủ ở Ephesus đã trôi dạt từ thế giới Kitô giáo vậy. Trong tình tiết tuyệt đẹp của bộ sử thi Mahábhárata, vua Yudhisthira sau khi hành trình đến cửa thiên đường, đã từ chối bước vào cõi hạnh phúc đó trừ khi con chó trung thành của mình cũng được nhận vào. Thần Indra bảo ông rằng: “Thiên đường của ta không có chỗ cho loài chó; chúng ăn trộm vật phẩm cúng tế của chúng ta dưới trần gian;” và lại rằng: “Nếu một con chó chỉ cần nhìn vào vật tế lễ, người ta sẽ coi lễ đó là ô uế và vô giá trị.” Khó khăn này đã được giải quyết khi con Chó – vốn là thần Yama cải trang – lộ diện và ca ngợi lòng trung thành của người bạn mình. Rõ ràng là chính nhờ mối liên hệ với Yama, vị thần Chết, và dưới sự tiến hóa của thuyết nhị nguyên phân chia vũ trụ thành cõi trên và cõi dưới, mà loài Chó đã bị hạ cấp trong tâm thức tổ tiên người Aryan của chúng ta; đồng thời bản tính đôi khi giống sói và một vài đặc điểm tự nhiên khác của nó đã cung cấp nền tảng cho bản tính quỷ dữ. Nó vừa là một kẻ canh gác nguy hiểm, vừa là kẻ dễ bị tha hóa.

Cerberus (Calmet), bởi Gemini.
Hình 4. Cerberus (Calmet), bởi Gemini.

Trong Thần thoại Vệ Đà thuở sơ khai, chính nơi ở của các vị thần được canh giữ bởi hai con chó, vốn được các nhà thần thoại học hệ mặt trời xác định là hoàng hôn buổi sáng và buổi tối: một giai đoạn muộn hơn cho thấy chúng phục vụ thần Yama, và chúng tái hiện dưới hình ảnh kẻ canh giữ địa ngục Hades của Hy Lạp là Cerberus và Orthros. Con vật thứ nhất được truy nguyên từ Sarvara trong kinh Vệ Đà, con vật thứ hai từ quái vật Vritra. “Orthros” là từ tương đương về mặt ngữ âm của Vritra. Con chó cái Sarama, mẹ của hai con chó trong kinh Vệ Đà, đã tỏ ra là một kẻ canh gác phản bội và bị thần Indra giết chết. Từ đó, người nông dân Nga mới có một dị bản khác về việc con Chó, khi đang canh gác, đã để Ác quỷ vào thiên đàng sau khi được ném cho một khúc xương. Nhưng hai con chó canh của thần thoại Ấn Độ dường như không mang tính cách xấu xa. Trong một bài thánh ca tang lễ của Rig-Veda (x. 14) gửi tới Yama, Vua của Cái Chết, chúng ta đọc thấy:

Bằng một con đường tốt lành, xin ngài hãy nhanh chóng vượt qua hai con chó vằn bốn mắt, hậu duệ của Sarama; rồi hãy đến gần các Pitris [tổ tiên] xinh đẹp, những người cùng chung vui với Yama. Hỡi Yama, hãy giao phó người này cho hai con chó canh của ngài, những kẻ bốn mắt, canh giữ con đường và quan sát loài người. Hai sứ giả màu nâu của Yama, lỗ mũi rộng và không bao giờ thỏa mãn, đi lang thang giữa loài người; mong sao hôm nay các ngài lại ban cho chúng tôi hơi thở tốt lành của sự sống để chúng tôi có thể nhìn thấy mặt trời!

Và giờ đây, hàng ngàn năm sau khi những lời này được thốt ra, ta thấy loài Chó vẫn được coi là kẻ nhìn thấy hồn ma, kẻ canh giữ cửa tử thần, mà tiếng tru của nó là lời báo trước về sự mở ra của cánh cửa ấy. Tiếng chó tru vào đêm ngày 9 tháng 12 năm 1871 tại Sandringham, nơi Thân vương xứ Wales đang nằm bệnh, đã được coi là đủ quan trọng để các tờ báo đưa tin cho cả một đất nước đang run rẩy. Gần đây tôi có đọc về một con chó ở một ngôi làng tại Đức, kẻ được cho là đã báo trước quá nhiều cái chết đến mức nó trở thành đối tượng của nỗi kinh hoàng chung và bị giết chết. Ở đất nước đó, niềm tin vào bản chất quỷ dữ của loài chó dường như đủ mạnh để truyền dẫn sức ảnh hưởng ngay cả tới bộ não quyền năng của Goethe.

Trong bài thơ của Goethe, chính vào lúc Faust đang đi dạo với cậu sinh viên Wagner thì con Chó đen xuất hiện, lao vòng quanh họ theo những đường xoắn ốc rồi bị giăng ra, như Faust nói, ‘một vòng xoáy ma thuật như một cái bẫy quanh họ;14 rằng sau khi con chó này theo Faust vào phòng làm việc của ông, nó biến thành một hình thù quái dị, cho đến khi hóa thành một đám sương mù, từ đó Mephistopheles bước ra – ‘cái lõi của con thú’ – trong bộ dạng của một học giả vân du. Điều này trùng hợp một cách đáng chú ý với biểu tượng cổ xưa của loài Chó, vốn là hình dạng thường thấy nhất của các ‘Lares’ (hình 2), hay các vị thần bảo hộ gia đình, ban đầu là vì sự cảnh giác của nó.

Hình 2. Canine Lar (Herculaneum), bởi Gemini.
Hình 5. Canine Lar (Herculaneum), bởi Gemini.

Hình dạng được trình bày ở đây gần như giống hệt với Cynocephalus (Khuyển thủ), kẻ mà tác giả uyên bác của cuốn ‘Mankind: their Origin and Destiny’ xác định là thực thể thuộc dòng dõi Adam được đặt làm kẻ canh gác và người chỉ dẫn trong vườn Địa đàng (Sáng thế ký xvi. 15); một ví dụ về thực thể này, tay cầm bút và phiến đá (như Horapollo mô tả), được đưa ra trong tác phẩm đó, lấy từ đền Philæ. Chrysippus nói rằng về sau chúng được miêu tả như những thanh niên khoác da chó. Những tàn dư về đặc tính bảo hộ của loài chó nằm rải rác trong văn học dân gian Đức: nó được coi là nhà tiên tri, kẻ nhìn thấy ma, và được phú cho nhãn quan thứ hai; ở Bohemia, đôi khi người ta cho chó liếm mặt một đứa trẻ sơ sinh để đứa bé có thị lực tốt.

Đoạn trích trong ‘Faust’ đã được truy nguyên từ ác cảm của Goethe đối với loài chó, như được thể hiện trong cuộc trò chuyện của ông với Falk vào thời điểm Wieland qua đời. “Sự diệt vong là điều hoàn toàn không thể xảy ra; nhưng khả năng bị tóm trên đường đi bởi một đơn tử [monas] mạnh mẽ hơn nhưng lại đê tiện hơn, và bị khuất phục trước nó; đây chắc chắn là một mối bận tâm rất nghiêm trọng; và về phần mình, tôi chưa bao giờ có thể hoàn toàn rũ bỏ nỗi sợ hãi về điều đó, theo cách của một sự quan sát tự nhiên đơn thuần.” Vào khoảnh khắc đó, Falk kể, người ta nghe thấy tiếng một con chó sủa liên hồi ngoài phố. Goethe vội vã lao đến cửa sổ và hét lên với nó: “Mi có mang hình hài gì đi nữa, hỡi con ấu trùng gớm ghiếc kia, mi cũng sẽ không thể khuất phục được ta!” Sau một lúc dừng lại, ông tiếp tục bình luận: “Đám hạ lưu của tạo hóa này cực kỳ chướng mắt. Đó là một bầy đơn tử hoàn hảo mà chúng ta bị ném vào cùng nhau trong cái xó xỉnh hành tinh này; sự đồng hành của chúng sẽ chẳng mang lại cho chúng ta chút danh dự nào trước những cư dân của các hành tinh khác, nếu tình cờ họ nghe được điều gì về chúng.

Khi đến thăm ngôi nhà nơi Goethe từng sống ở Weimar, tôi đã giật mình khi thấy vật trang trí chính yếu trong sảnh là một con chó lớn bằng đồng, kích thước như thật và rất sẫm màu, đang kiêu hãnh nhìn ra phía trước, như thể rốt cuộc nó đã chiếm giữ được đơn tử của Goethe. Tuy nhiên, không có khả năng là sự ghét bỏ loài chó thực sự của nhà thơ, chỉ nảy sinh từ những suy đoán về các đơn tử. Có khả năng hơn là khi quan sát bức bích họa cổ trong hầm rượu Auerbach, trong đó một con chó đứng cạnh Mephistopheles, Goethe đã bị thúc đẩy phải xem xét cẩn thận nguyên nhân của sự thân mật đó. Đáng tiếc thay, và bất chấp những câu chuyện ngụ ngôn cùng tình cảm mà người ta gán cho con vật ấy, vẫn có một số điều rất đáng kinh tởm về nó, chẳng hạn như xu hướng hóa điên và gây ra cái chết khủng khiếp cho con người. Những ‘con chó săn thần tốc’ của nữ thần cuồng nộ Mania của Hy Lạp (trong vở Bacchæ 977) đã gieo rắc nỗi kinh hoàng ở khắp mọi nơi.

Những ai đọc kỹ ghi chép của ông Lewes về cuộc cãi vã giữa Karl August và Goethe – bắt nguồn từ sự phản đối của Goethe đối với việc đưa một chú chó làm xiếc lên sân khấu Weimar, sự cố dẫn đến việc ông từ chức quản đốc nhà hát – có thể phát hiện ra sự ác cảm này hòa quyện với sự ghê tởm của ông dưới tư cách là một nghệ sĩ; và người ta cũng có thể nghi ngờ rằng không phải chỉ có tiếng ồn đơn thuần mới gây ra những sự tra tấn mà chính ông mô tả là từng phải chịu đựng ở Göttingen từ tiếng chó sủa. Dẫu vậy, không phải là không có khả năng rằng trong cái ý nghĩ ngông cuồng của Goethe, kết hợp với chứng sợ chó của ông, chúng ta tìm thấy tàn dư của niềm tin của người Parsees vùng Surat, những người tôn kính loài Chó hơn tất cả các loài động vật khác. Khi có một người sắp chết, họ đặt mõm một con chó gần miệng người đó và bắt nó sủa hai tiếng, để nó có thể bắt lấy linh hồn đang lìa xác và mang đến cho vị thiên thần đang chờ đợi.

Những kẻ thờ cúng ma quỷ ở vùng Travancore cho đến ngày nay vẫn tuyên bố rằng thế lực tà ác tiếp cận họ dưới hình dạng một con Chó, giống như cách Mephistopheles tiếp cận Faust. Nhưng trước khi sự mê tín này đi vào bài thơ của Goethe, nó đã trải qua nhiều biến đổi; và đặc biệt là khứu giác nhạy bén của loài chó đã tác động đến trí tưởng tượng của người Bắc Âu, khiến họ gán cho nó trí tuệ siêu nhiên.

Do đó, chúng ta đọc thấy trong Truyền thuyết về Hakon the Good rằng, khi Eystein the Bad chinh phục Drontheim, hắn đã cho người dân lựa chọn giữa nô lệ Thorer của hắn hoặc con chó Sauer của hắn để làm vua. Họ đã chọn con Chó. “Giờ đây con chó đã được pháp thuật ban cho trí tuệ bằng ba người gộp lại; và khi nó sủa, nó nói một từ và sủa hai tiếng.” Con Chó này đeo một chiếc vòng cổ bằng vàng và ngồi trên ngai, nhưng bất chấp mọi trí tuệ và quyền lực của mình, dường như nó vẫn chỉ là một con chó; bởi vì khi một bầy sói tấn công đàn gia súc, nó đã lao ra chống trả và bị chúng xé xác.

Trong số những người da đen ở các bang miền Nam nước Mỹ, tôi nhận thấy có niềm tin rằng hình thức xuất hiện thường xuyên nhất của một hiện tượng ma quỷ là một con Chó lớn với đôi mắt rực lửa, điều này có thể là một niềm tin mê tín nguyên thủy bắt nguồn từ sự khiếp sợ của họ đối với loài chó săn máu [bloodhound], loài vật mà ở một số vùng đã truy đuổi họ khi họ cố gắng trốn thoát. Trong số những người da trắng ở cùng khu vực, tôi chưa bao giờ tìm thấy bất kỳ trường hợp nào có chung niềm tin này, mặc dù niềm tin vào điềm báo của tiếng chó tru lại rất phổ biến; và có thể đây là tàn dư từ một vùng nào đó ở châu Phi, nơi loài Chó mang tiếng xấu giống như kẻ gánh tội thay. Ở một vài bộ lạc tại Fazogl, có một lễ hội hóa trang hàng năm nơi mọi người làm những gì mình thích. Sau đó, nhà vua được đặt ngồi ngoài trời, một con chó bị buộc vào chân ghế của ngài, và con vật đó bị ném đá cho đến chết.

Mark Twain15 có ghi chép lại văn học dân gian của một ngôi làng ở Missouri, nơi chúng ta thấy những cậu bé run lên vì sợ hãi trước tiếng tru của một con ‘chó hoang’ trong đêm, nhưng lại thờ ơ với tiếng tru của một con chó mà chúng nhận ra. Điều này có thể là một biến thể của niềm tin phổ biến ở Anh rằng sẽ là điềm rủi nếu bị một con chó ‘lạ’ đi theo. Từ cùng cuốn sách đó, có vẻ như con chó sẽ luôn hướng đầu về phía người mang điềm chết chóc: những cậu bé hoàn toàn thở phào nhẹ nhõm khi phát hiện ra con vật đang tru kia quay lưng về phía chúng.

Điều đáng chú ý là những mảnh vỡ của sự mê tín châu Âu này lại bắt gặp ở vùng Viễn Tây một vụ mùa bội thu những điều tương tự nảy mầm trong các thổ dân, như đoạn trích sau đây từ tác phẩm của ông Brinton, ‘Myths of the New World’, sẽ cho thấy: ‘Loài chó được cho là có mối quan hệ đặc biệt nào đó với mặt trăng, có lẽ vì chúng thường tru lên với mặt trăng và chạy rông vào ban đêm, những tập tính kỳ quái đã khiến chúng phải trả giá đắt về danh tiếng. Phong tục đánh đập nhừ tử lũ chó trong suốt thời gian xảy ra nguyệt thực diễn ra phổ biến giữa các bộ lạc cách xa nhau như người Peru, Tupi, Creek, Iroquois, Algonquin và người Eskimo ở Greenland. Người Creek giải thích điều này bằng cách nói rằng con Chó khổng lồ đang nuốt chửng mặt trời, và bằng cách quất roi lũ chó nhỏ, họ có thể khiến nó phải từ bỏ. Con Chó lớn đó là gì thì họ chưa thể lý giải. Nhưng chúng ta thì biết. Đó là nữ thần đêm tối, được đại diện bởi con Chó, kẻ đang bao phủ thế giới giữa ban trưa. Theo một nghĩa tích cực hơn, chúng đại diện cho những đặc điểm dễ chịu hơn của nữ thần mặt trăng. Xochiquetzal, vị thần sinh sản mắn đẻ nhất trong các vị thần Aztec, nữ thần bảo trợ tình yêu, khoái cảm tình dục và việc sinh nở, cũng được gọi là Itzcuinan, theo nghĩa đen, là ‘chó mẹ.’’

Danh hiệu kỳ lạ và đối với chúng ta là vô cùng đáng ghét này dành cho một vị nữ thần không phải là không có trường hợp tương tự ở những nơi khác. Trong các cuộc chiến tranh của mình, khi mang quân vào tỉnh Huanca, Inca Pachacutec phát hiện ra cư dân ở đó đã dựng tượng một con Chó trong các đền thờ như vị thần tối cao của họ… Sự phong thánh cho loài chó này giải thích tại sao ở một số vùng của Peru, một tu sĩ lại được gọi một cách đầy tôn kính là allco, nghĩa là Chó!… Nhiều bộ lạc trên bờ biển Thái Bình Dương đã cùng nhau tôn thờ một loài hoang dã, đó là chó sói đồng cỏ [coyote], tức loài Canis latrans theo cách gọi của các nhà tự nhiên học.’ Về Ác khuyển Chantico, truyền thuyết của người Nahua kể rằng, ‘hắn đã dâng vật hiến tế lên các vị thần mà không tuân thủ việc nhịn ăn để chuẩn bị, vì thế hắn bị trừng phạt bằng cách biến thành một con Chó. Sau đó hắn khẩn cầu vị thần chết giải thoát cho mình, nỗ lực trốn tránh một hình phạt đích đáng này đã chọc giận các vị thần đến mức họ nhấn chìm thế giới trong biển nước.’

Cụm từ phổ biến ‘chó săn địa ngục’ [hell-hounds] đã đến với chúng ta qua nhiều ngả khác nhau. Khi Diana bị hạ cấp xuống thành Hecate, những con chó của Hades, Orthros và Cerberus, được nhân lên thành một bầy chó săn phục vụ cho cuộc đi săn của bà, cũng bị hạ cấp cùng với bà trở thành những kẻ săn mồi và tru lên dưới địa ngục. Một sự suy thoái tương tự đối với cuộc đi săn của Odin cũng diễn ra vào một thời điểm muộn hơn. Thợ săn Hoang dã [Wild Huntsman], vốn là một nhân vật ma quỷ, sẽ được xem xét ở phần khác. Về loài Chó, có thể nói thêm ở đây rằng, có lẽ có nhiều đặc điểm khác nhau của con vật này được phản ánh trong bản chất quỷ dữ của nó. Khả năng mắc bệnh dại và lây nhiễm chứng sợ nước [hydrophobia] cho con người dường như đóng một vai trò trong đó. Spinoza có ám chỉ đến phong tục thời của ông là giết những người mắc phải chứng bệnh dại lây từ chó này bằng cách làm cho ngạt thở; và người viết tiểu sử kiêm biên tập viên người Anh của ông, Tiến sĩ Willis, kể với tôi rằng thời thơ ấu ở Scotland, ông luôn nghe người ta nói về điều này như một phong tục cũ. Việc một cách thức đối xử như vậy có thể tồn tại khó lòng quy cho điều gì khác ngoài niềm tin vào đặc tính quỷ dữ của con chó dại, đồng dạng với sự mê tín vô thức vẫn khiến các quan tòa nông thôn ra lệnh giết một con chó đã cắn người. Quan niệm ở đây là, nếu con chó sau đó phát điên, thì người bị cắn cũng sẽ phát điên. Lẽ dĩ nhiên sẽ hợp lý hơn nếu bảo tồn cẩn thận mạng sống của con chó, để nếu nó tiếp tục khỏe mạnh, người bị cắn có thể cảm thấy yên tâm, điều mà họ không thể có được nếu con vật đã chết.

Nhưng sự suy thoái của loài chó có nguyên nhân ngay cả trong sự trung thành của nó với vai trò kẻ canh gác. Bởi vì điều này, như chúng ta vừa thấy, đã khiến nó trở thành một hình thức phổ biến của các Lares hay những con quỷ trong nhà. Các tượng thần giữ nhà [teraphim] cũng thường có hình dạng này. Vì vậy, Cơ đốc giáo có một lý do đặc biệt để gán bản tính địa ngục cho những thần tượng nhỏ bé này, những thứ đã can thiệp vào sự phụ thuộc của dân chúng vào các vị thánh. Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều nguyên nhân tác động để tạo ra tầng lớp ác quỷ đáng gờm được gọi là Cynocephaloi vào thời Trung cổ. Các bức tranh thánh cổ của Nga đặc biệt nhan nhản những con quỷ đầu chó này; vào thế kỷ XVI, chúng thường được miêu tả đang xé xác các linh hồn dưới địa ngục; và đôi khi con rồng trong sách Khải Huyền được miêu tả với bảy cái đầu chó kinh hãi.

Ông Toussenel, trong những diễn giải siêu việt của mình, đã đồng nhất loài Sói với kẻ cướp và kẻ sống ngoài vòng pháp luật.16 Cụm từ tục ngữ thời trung cổ chỉ một kẻ ngoài vòng pháp luật – kẻ mang teste lœve, caput lupinum, wulfesheofod (đầu sói), mà vị tác giả tài ba kia có lẽ còn nhớ – có nguồn gốc từ rất lâu đời. Sói được gọi là kẻ cướp trong kinh ‘Rig-Veda,’ và ở đó nó cũng bị quỷ hóa, vì chúng ta thấy nó bỏ chạy trước một tín đồ. (Trong kinh ‘Vendidad’ của hệ phái Zend, linh hồn của những người ngoan đạo sợ gặp phải con sói trên đường lên thiên đàng). Vị thần Pushan được cầu khẩn để chống lại con sói độc ác, tà linh.17 Cardano nói rằng nằm mơ thấy chó sói là điềm báo có kẻ cướp. Đồng thời, ở loài sói cũng tồn tại một tình yêu tự do luôn đầy sức hút, điều mà trong câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng, đã khiến nó thà chịu cảnh gầy gò còn hơn là sự thoải mái của con chó đeo vòng cổ. Điều này đôi khi làm cho nó, giữa đám quỷ thú, cũng giống như chàng thợ săn dũng mãnh Nimrod và gã Esau đầy lông lá giữa đám ác quỷ hình người. Người ta không ngạc nhiên khi thỉnh thoảng tìm thấy những câu chuyện tốt đẹp về loài sói. Chẳng hạn, bộ tộc Nez Perces ở Mỹ truy nguồn gốc của nhân loại từ một con sói. Họ kể rằng ban đầu, khi chưa có gì ngoài các loài động vật, có một con quái vật khổng lồ đã nuốt chửng chúng khi chúng còn sống nguyên con. Con quái vật này đã nuốt một con sói, và khi vào trong bụng quái vật, con sói thấy các loài động vật ở đó đang gầm gừ và cắn xé lẫn nhau y như khi chúng ở trên mặt đất bên ngoài. Con sói khuyên nhủ chúng rằng những nỗi đau khổ chung lẽ ra phải dạy cho chúng sự thân ái, và cuối cùng nó đã thuyết phục chúng tham gia vào một hệ thống hợp tác mà nhờ đó, chúng đã đục thủng lườn con quái vật để chui ra ngoài, khiến con quái vật chết ngay lập tức. Những con vật được giải thoát sau đó ngay lập tức biến thành người (cách thức và lý do tại sao thì những người ủng hộ sự hợp tác sẽ dễ dàng thấu hiểu), và họ đã lập nên tộc người da đỏ Nez Perces.

Đáng buồn thay, những thần thoại của châu Á và châu Âu lại hoàn toàn trái ngược với điều này cả về tinh thần lẫn hình thức, khi toàn kể về việc con người bị biến thành chó sói. Tuy nhiên, trong Thần thoại Bắc Âu, có một con sói quỷ mà câu chuyện của nó mang một chút xúc động, mặc dù có lẽ ban đầu nó chỉ là sự biểu đạt đơn thuần cho quy luật vật lý.

Đó là con sói Fenris, kẻ ban đầu vốn là thú cưng của các nam thần và chó chăn của các nữ thần, sau đó trở nên khổng lồ và đáng sợ đến mức bản thân Asgard cũng bị đe dọa. Tất cả kỹ năng và sức mạnh của các vị thần đều không thể rèn ra những sợi xích có thể trói buộc nó; nó bẻ gãy chúng như những cọng rơm và xô ngã cả những ngọn núi mà người ta đã cột nó vào. Nhưng những Yêu tinh nhỏ làm việc dưới lòng đất đã làm ra một sợi xích vô cùng thanh mảnh đến mức không ai có thể nhìn thấy hay cảm nhận được nó, – được tạo ra từ râu của phụ nữ, hơi thở của cá, tiếng bước chân của mèo, nước dãi của chim, gân của gấu, rễ của đá, – ám chỉ những thứ không tồn tại. Chính thứ này đã giữ chặt nó. Fenris bị xích cho đến ngày tận diệt cuối cùng, khi nó sẽ sổ lồng và nuốt chửng Odin. Sợi dây mảnh mai trói buộc sự hung dữ ấy, phải chăng đó là tình yêu có thể thuần hóa mọi sinh linh? Phải chăng đó là tia nắng vạch ra ranh giới sinh sống cho loài sinh vật mạnh mẽ nhất?

Hai con quái vật được tạo ra khi Ráhu bị chẻ làm đôi trong Thần thoại Ấn Độ, đã xuất hiện trở lại trong truyện ngụ ngôn Edda dưới hình dạng hai con sói Sköll và Hati, những kẻ đuổi theo mặt trời và mặt trăng. Như trong sử thi Völuspá có câu:

Về phía Đông trong khu Rừng Sắt
Kẻ già nua ngồi đó,
Và sinh ra tại đây
Dòng dõi hung tàn của Fenrir.
Trong số này, kẻ mạnh nhất,
Kẻ nuốt chửng mặt trăng,
Mang hình hài giống quỷ dữ nhất,
Và uống no máu tươi
Của những kẻ đã chết và đang hấp hối,
Nhuộm đỏ bằng máu đào
Ngai vàng của các vị thần tối cao.

Lối nói uyển chuyển đi kèm với việc xoa dịu những con quái vật như vậy có thể giải thích phần nào về nhiều điều tốt đẹp được kể về loài sói trong các truyền thuyết dân gian. Câu chuyện về chó sói cái nuôi dưỡng những đứa trẻ, như Romulus và Remus, được tìm thấy ở nhiều vùng đất. Quả thực, chúng hẳn phải có một uy tín nhất định mới được đưa vào truyền thuyết của các vị thánh nhiều đến vậy. Giống như những con gấu mà tiên tri Elisha gọi ra để ăn thịt lũ trẻ, bầy sói không hề đánh mất đi sự hung dữ tự nhiên của chúng khi trở nên ngoan đạo. Chúng ăn thịt những kẻ dị giáo và báng bổ thần thánh. Một con sói đã canh giữ thủ cấp của Thánh Edmund Tử đạo của nước Anh; một con khác hộ tống Thánh Oddo, Viện trưởng tu viện Cluny, giống như tổ tiên của ngài đã từng hộ tống các tu sĩ ở Cluny. Da sói xuất hiện trong văn học dân gian như một lá bùa chống lại bệnh dại; răng của nó là thứ tốt nhất để giúp trẻ em dễ mọc răng (cắt lợi), và vết cắn của nó, nếu nạn nhân sống sót, là một sự đảm bảo không bao giờ bị thương hay đau đớn trong tương lai.

Hình ảnh gợi ý cho bài viết Quỷ học về Gấu và Rắn của Pao Pevil
Hình 6. Sói trong vai trò Cha giải tội (có lẽ của Hà Lan), bởi Gemini.

Bi kịch vốn bị gieo rắc một cách ngớ ngẩn vào tâm trí trẻ thơ, Cô bé quàng khăn đỏ, cho thấy sói là một con vật xảo quyệt. Có rất nhiều truyền thuyết mang tính chất tương tự đã biến nó thành một hình tượng được ưa chuộng để khắc họa những kẻ mạo danh đạo đức. Trong hình 1 của chúng ta, con sói xuất hiện như một “cha giải tội nguy hiểm;” theo ý kiến của ông Wright, nó được dùng để ám chỉ Mary xứ Modena, Vương hậu của vua James II, và Cha Petre. Ở đầu bức tranh gốc có dòng chữ “Converte Angliam” (Hãy cải đạo nước Anh) và bên dưới là câu, “Thật là một con cừu ngốc nghếch khi chọn sói làm cha giải tội.” Sự xảo quyệt của loài sói được thể hiện qua một bước ngoặt mang màu sắc một phần chính trị, một phần xã hội do một nhà ngụ ngôn người Mỹ đưa vào một trong những truyện ngụ ngôn của Æsop. Con sói, sau khi buộc tội con cừu non (mà nó định ăn thịt) là làm đục dòng suối, và nhận được câu trả lời rằng cừu đang uống nước ở tận hạ lưu, liền thay đổi lời buộc tội và nói: “Mày đã phản đối việc ứng cử của tao tại cuộc họp kín hai năm trước.” “Lúc đó tôi còn chưa ra đời,” cừu non đáp. Sói bèn nói: “Bất cứ ai nghe những lời buộc tội của tao cũng sẽ làm chứng rằng tao bị điên và không phải chịu trách nhiệm về hành động của mình,” và ngay lập tức ăn thịt con cừu với niềm tin tuyệt đối vào một bồi thẩm đoàn gồm những kẻ đồng hương của nó. Ông Toussenel cho rằng sói là một chiến lược gia đáng gờm, mặc dù những người ít quan sát hơn nhận thấy trong tính cách của nó có rất ít điểm chứng minh cho thuộc tính xảo quyệt này, bởi tướng mạo và tập tính của nó cho thấy nó giống một kẻ cướp đường lộ liễu hơn. Rất có thể những câu chuyện ngụ ngôn mang tính chất này đã lấy đặc điểm đó từ sự liên đới của loài sói với ác quỷ và ma quỷ, những kẻ được cho là hay đội lốt chúng.

Trong một bài thánh ca tuyệt đẹp gửi Đất Mẹ trong kinh ‘Atharva Veda’, có câu: “Trái Đất, người chịu đựng gánh nặng của kẻ áp bức, người nâng đỡ nơi ở của kẻ hèn mọn lẫn kẻ cao sang, dung túng cho lợn nhà, và dọn đường cho lợn lòi hoang.” Chó săn lợn lòi ở vùng Brittany và một số vùng khác ngày nay vẫn được duy trì bằng ngân sách của Chính phủ. Có nhiều dấu hiệu kiểu này cho thấy vào thời sơ khai, con người đã phải phòng thủ quyết liệt trước sự tàn phá của lợn lòi, và, như De Gubernatis nhận xét,18 bản tính của nó nhìn chung là mang tính ác quỷ. Các cuộc chiến của Hercules với con lợn rừng Erymanthian, và của Meleager với con lợn rừng Calydonian, là đủ để thấy rằng chính nhờ bản tính nguy hiểm mà nó trở thành con vật linh thiêng đối với các vị thần chiến tranh như Mars và Odin. Nhưng cũng cần nhớ rằng hóa thân thứ ba của thần Vishnu là một con Lợn hoang; và với tư cách là kẻ tiêu diệt loài rắn không biết sợ, lợn xứng đáng với sự liên kết này cùng vị Thần Bảo tồn. Được trang bị một lớp mỡ dày, không một loại nọc độc nào có thể làm hại nó trừ khi cắn trúng môi. Có thể chính khả năng thách thức thử thách nọc rắn này, sau khi sự ô uế đã loại trừ lợn khỏi thói phàm ăn của con người ở một số khu vực, đã gán cho nó một bản chất ma quỷ. Trong truyền thuyết của các giáo sĩ Do Thái, lợn và chuột được Nô-ê tạo ra để dọn sạch rác rưởi trên Tàu; nhưng khi lũ chuột trở thành một mối phiền toái, ông đã gọi ra một con mèo từ mũi của con sư tử.

Rõ ràng là tổ tiên người châu Á và Bắc Âu của chúng ta chưa bao giờ phải chạm trán với một loài thú hung dữ như Gấu xám (Grizzly Bear – Ursus horribilis) của châu Mỹ, nếu không thì sự hiện diện của loài vật này trong Quỷ học đã không thể trở nên đáng kính đến thế. Loài Gấu châu Á tương đối nhút nhát (U. labiatus), loài gấu Tây Tạng nhỏ bé và gần như vô hại (U. Thibetanus), dường như đã lấn át những loài gấu hung dữ nhưng hiếm hơn ở phương Bắc trong việc mang đến cho chúng ta những câu chuyện ngụ ngôn Ấn-Âu, trong đó nhìn chung, con vật này rất được yêu thích. Emerson nhận thấy trong sự yêu thích của người Anh đối với truyền thuyết quốc gia của họ, truyện ‘Người đẹp và Quái vật’ [Beauty and the Beast], một dấu hiệu về chính bản chất của người Anh. “Họ là một con gấu với một góc mềm yếu trong tim; họ nói Không, nhưng rồi lại giúp đỡ bạn.” Truyền thuyết cổ xưa này cũng có chỗ đứng trong trái tim của một người Mỹ cực kỳ tiêu biểu – Theodore Parker, người rất thích gọi người bạn thân nhất của mình là “Gấu”, và khi đến châu Âu, ông đã tới Berne để ngắm những con gấu yêu thích của mình, loài vật đã mang lại cái tên cho thành phố này. Sự hảo ngọt của loài gấu – từ đó mà có cái tên tiếng Nga của nó, medv-jed, “kẻ ăn mật” – có lẽ có chút liên quan đến sở thích tinh tế của nó đối với hoa hồng và sự ngưỡng mộ vẻ đẹp nữ giới, như được kể trong nhiều câu chuyện thần thoại. Trong nghiên cứu đối chiếu về thần thoại loài Gấu, De Gubernatis19 có đề cập đến việc Vua Trisankus bị biến thành một con gấu, và liên kết điều này với chòm sao Đại Hùng [Great Bear]; nhưng cũng có khả năng tương đương là nó liên quan đến nhiều câu chuyện ngụ ngôn về các hoàng tử phải mang hình hài gấu cho đến khi lời nguyền được hóa giải bởi nụ hôn của một thiếu nữ.

Đáng chú ý là trong các truyền thuyết của Nga, loài Gấu hoàn toàn không đáng yêu như trong văn học dân gian phương Tây của chúng ta. Trong một câu chuyện, hoàng tử Gấu ẩn nấp trong đài phun nước của mình, túm lấy râu của nhà vua khi ông ta đang đi săn và cố gắng giải cơn khát, và chỉ thả ông ta ra sau khi nhận được lời hứa sẽ giao nộp bất cứ thứ gì ông ta có ở nhà mà ông ta chưa biết tới; cặp song sinh Ivan và Maria, sinh ra trong lúc ông vắng mặt, do đó đã bị định đoạt – chúng được giấu đi, nhưng bị con gấu phát hiện và bắt đi. Chúng được cứu thoát nhờ sự giúp đỡ của con bò đực. Khi chạy trốn con gấu, Ivan ném xuống một chiếc lược, chiếc lược biến thành một khu rừng rậm rạp mà con gấu vẫn lách qua được; nhưng khi chiếc khăn tay trải ra biến thành một hồ lửa thì nó đã buộc con gấu phải quay đầu.20 Chính con Gấu Bắc Cực hung dữ đã tạo cho câu chuyện này tính chất u ám. Tương tự như vậy là câu chuyện của Nga về con Gấu lông sắt, kẻ tàn phá vương quốc, ăn thịt dân chúng cho đến khi chỉ còn lại Ivan và Helena; sau khi cả hai cố gắng trốn thoát bằng nhiều cách khác nhau, thành công của họ được bảo đảm nhờ con Bò đực, kẻ tử tế hơn Elisha, đã làm mù mắt con Gấu bằng cặp sừng của mình.21 (Gấu thì lui về ở ẩn vào mùa đông). Trong truyện của Na Uy, Gấu trở nên hiền hòa hơn, ban đêm là một chàng thanh niên tuấn tú, người bị vợ đánh mất do cô muốn nhìn anh dưới ánh đèn: chỗ của cô bị một công chúa mũi dài thay thế, cho đến khi, nhờ sự trợ giúp của quả táo vàng và bông hồng, cô giành lại được chồng. Trong truyện Pentameron,22 Pretiosa, để trốn tránh sự truy bức của cha mình, đã đi vào rừng dưới lớp ngụy trang là một con gấu cái; cô chăm sóc và chữa trị cho hoàng tử, người đã đem lòng yêu cô, và nhờ nụ hôn của chàng mà cô biến lại thành một thiếu nữ xinh đẹp. Do đó, loài Gấu có một sự phát triển song song hai mặt trong văn học dân gian. Nó từng bị giết (vào thế kỷ 13) vào cuối kỳ Lễ hội hóa trang [Carnival] ở Rome, như một hiện thân của Ác quỷ.23 Người Siberia, nếu họ lỡ giết một con gấu, sẽ treo da nó lên cây và cúi đầu khiêm nhường xin lỗi nó, thanh minh rằng họ không hề rèn thứ kim loại đã đâm xuyên qua nó, và họ định bắn mũi tên đó vào một con chim; qua đó có thể thấy rõ rằng họ đặt niềm tin vào sự ngốc nghếch của nó nhiều hơn là vào một trái tim nhân hậu. Ở Canada, khi những thợ săn giết được một con gấu, một người trong số họ sẽ tiến đến và đặt tẩu thuốc của mình vào giữa hai hàm răng của con vật, hít một hơi vào nõ tẩu, và bằng cách đó, phả đầy khói vào miệng con vật, khẩn cầu linh hồn nó đừng nổi giận vì cái chết của mình. Vì hồn ma của con gấu không đáp lời, người thợ săn, để biết xem lời cầu nguyện của mình có được chấp thuận hay không, liền cắt lấy phần gân dưới lưỡi gấu và giữ nó cho đến cuối buổi đi săn. Khi đó, một đống lửa lớn được đốt lên, và cả nhóm trang trọng ném tất cả những phần gân loại này mà họ có vào lửa; nếu chúng cháy nổ lách tách và tan biến, như lẽ tự nhiên, thì đó là dấu hiệu cho thấy những con gấu đã được xoa dịu.24 Ở Greenland, con quỷ vĩ đại vừa bị khiếp sợ vừa được cầu khẩn, đặc biệt là bởi các ngư dân, có tên là Torngarsuk, một con Gấu khổng lồ với một cánh tay người. Nó vô hình đối với tất cả mọi người ngoại trừ các thầy tư tế của nó, những Anguekkoks, cũng là những y sĩ duy nhất của dân tộc này.

Đỉnh cao của sức mạnh ma quỷ luôn được loài Rắn nắm giữ. Tuy nhiên, sẽ còn phải nói nhiều về khả năng hủy diệt và những đặc điểm khác của loài vật này khi chúng ta xem xét kỹ lưỡng vị trí độc tôn của nó trong Thần thoại, nên ở đây tôi chỉ tạm bằng lòng với một hình ảnh minh họa về Quỷ Rắn của người Singhalese. Nếu có ai thấy mình rùng mình khi nhìn thấy một con rắn, ngay cả ở một đất nước nơi chúng rất hiếm và tương đối vô hại, có lẽ bức hình 7 này, có thể gợi ý về nguyên nhân sâu xa của cái rùng mình đó.

Hình ảnh gợi ý cho bài viết Quỷ học về Gấu và Rắn của Pao Pevil
Hình 7. Quỷ Rắn của người Singhalese, bởi Gemini.

Tóm lại, có thể nói rằng không chỉ mọi sự hung dữ của động vật, mà mọi lực lượng có thể được sử dụng để gây hại, đều có những hình mẫu ma quỷ đại diện cho chúng. Mọi móng vuốt, răng nanh, ngòi đốt, móng guốc, sừng, đều chắc chắn được lập danh mục và gắn nhãn trong Quỷ học y như trong khoa học vật lý vậy. Điều đáng chú ý nữa là cách mà sự mê tín hợp lý hóa mọi thứ. Ví dụ như chiếc sừng trong thế giới động vật, mặc dù đôi khi nguy hiểm đối với con người, nhưng lại nguy hiểm hơn đối với các loài động vật khác, những loài vốn là kẻ thù của động vật có sừng, cũng là kẻ thù đối với lợi ích của con người. Những người chăn gia súc thời sơ khai hiểu rõ giá trị của chiếc sừng như một thứ vũ khí phòng vệ trước chó và sói, bên cạnh những tiện ích khác của nó. Hậu quả là, mặc dù nguyên lý sừng, có thể nói như vậy, trong tự nhiên bắt buộc phải được coi là một trong những đặc điểm có thể thụt vào kẻ thù bằng sự tàn ác của nó, con người chưa bao giờ quỷ hóa những loài vật có cú húc nguy hiểm nhất, mà cho mục đích đó, họ đã chuyển giao những chiếc sừng lên đầu của một sinh vật kỳ dị nào đó. Chiếc sừng do đó đã trở thành một vũ khí tự nhiên của loài quỷ hình người. Cùng một sự tiến hóa như vậy đã diễn ra ở châu Mỹ; bởi vì, mặc dù trong các truyền thuyết của thổ dân, ta có thể bắt gặp một con bò rừng quỷ tình cờ nào đó, nhưng những trường hợp như vậy rất hiếm và mang tính chất ngụy tạo từ thời cổ đại.

Hình ảnh gợi ý cho bài viết Quỷ học về Gấu và Rắn của Pao Pevil
Hình 8. Quỷ của người Da đỏ Chây Mỹ, bởi Gemini.

Bức hình về châu Mỹ kèm theo đây (hình 8) được lấy từ một bức ảnh do Chủ tịch Đại học Vanderbilt, bang Tennessee gửi cho tôi, người đã tìm thấy nó trong một gò đất cổ (của người da đỏ) ở bang Georgia. Nó có lẽ cổ xưa ngang với bất kỳ ví dụ nào về đầu người có sừng trên thế giới; và vì nó không thể bị ảnh hưởng bởi các quan niệm của châu Âu, nó cung cấp bằng chứng nổi bật rằng việc quỷ hóa các thế lực và mối nguy hiểm của tự nhiên thuộc về sự vận hành mang tính cấu trúc của tâm trí con người.


  1. Kiểu mẫu đa diện [Protean] này của cả quỷ và ác quỷ hẳn phải đồng hành cùng chúng ta liên tục trong suốt cuốn sách này, do đó không cần phải nói nhiều về nó trong chương này. ↩︎
  2. Canticles ii. 15. ↩︎
  3. Có lẽ truyền thuyết về chị Hằng, thỏ ngọc cũng bắt nguồn từ đây. ↩︎
  4. De Gubernatis, II. viii. ↩︎
  5. ‘Our Life in Japan’ (Jephson and Elmhirst, 9th Regiment), Chapman & Hall, 1869. ↩︎
  6. London ‘Times,’ June 11, 1877. ↩︎
  7. Rep. 488. ↩︎
  8. Literally, goat-song. More probably it has an astrological sense. ↩︎
  9. E.g., the demon Huorco in the ‘Pentamerone.’ ↩︎
  10. Xem thêm tác phẩm ‘Thần thoại động vật học’ của De Gubernatis, trong đó có nhiều chi tiết thú vị khác về chủ đề này. ↩︎
  11. ‘Những huyền thoại và người tạo ra huyền thoại.’ Boston: Osgood & Co. ↩︎
  12. ‘Zoological Mythology,’ p. 64. ↩︎
  13. Koran, xviii. ↩︎
  14. Wagner. Coi kìa, hắn dừng bước – rồi bò sát đất như sâu…. Đúng là gã học trò “ưu tú” nhất của giới thư sinh! ↩︎
  15. ‘The Adventures of Tom Sawyer.’ London: Chatto & Windus. ↩︎
  16. ‘Spirit of the Beasts of France,’ ch. i. ↩︎
  17. ↩︎
  18. ‘Zoolog. Myth.,’ i‘Rigv.’ i. 105, 18, 42, 2; ‘Vendidad,’ xix. 108. Quoted by De Gubernatis (‘Zoolog. Mythology,’ ii. 142).i. 7. Trübner & Co. ↩︎
  19. ‘Zoolog. Myth.,’ ii. 108 seq. ↩︎
  20. Afanasief, v. 28. ↩︎
  21. Ibid., v. 27. ↩︎
  22. ii. 6 (De Gubernatis, ii. 117). ↩︎
  23. Thà làm con quỷ của dục vọng còn hơn là của sự tàn bạo, theo như Du Cange: “Occidunt ursum, occiditur diabolus, id est, temptator nostræ carnis.” ↩︎
  24. De Plancy (trong cuốn Dictionnaire Infernal – Từ điển Địa ngục) cũng thuật lại một truyền thuyết thú vị về con gấu từng xuất hiện trong một dàn đồng ca ở Đức, theo lời kể của một ca viên ngái ngủ khi vừa tỉnh giấc; người kể chuyện chất phác của điển tích này còn bồi thêm rằng, đó chính là con quỷ được phái đến để đôn đốc các ca sĩ phải làm tròn bổn phận của mình! Tác phẩm Cuộc đời các Thánh (Lives of the Saints) tràn ngập những truyền thuyết về những con gấu mộ đạo, chẳng hạn như con gấu được tưởng niệm cùng với Thánh Sergius tại tu viện Troitska Lavra gần Moscow; hay con gấu mà Thánh Gallus đã khá ‘phũ phàng’ khi trục xuất khỏi Thụy Sĩ, ngay cả sau khi nó đã mang củi đến cho ngài như một minh chứng cho sự vâng phục của mình. ↩︎