Ngay cả khi đã trải qua bao thế hệ xa xưa, thật khó để đọc huyền thoại về việc Nữ thần Ishtar Giáng xuống Âm phủ mà không khỏi xúc động. Nữ thần Tình yêu đi qua bảy cánh cổng để tìm kiếm người tình dấu yêu, và tại mỗi cửa, những kẻ canh giữ đáng sợ lại tước bỏ một phần y phục cùng trang sức của nàng. Ishtar bước vào trần trụi trước sự hiện diện của Nữ hoàng Cõi Chết. Nhưng khi vắng bóng nàng, cả thần linh, loài người và muôn thú đều héo hon, nên Hea – Đấng Cứu Thế đầy quyền năng phép lạ – đã mê hoặc Nữ hoàng Âm phủ, khiến bà ra lệnh cho Phán quan của vương quốc là Annunak phải xá tội cho Ishtar từ ngai vàng của hắn.
“Hắn rưới nước hằng sống cho Ishtar và để nàng đi.
Rồi cánh cổng thứ nhất mở ra, trả lại cho nàng tấm y phục đầu tiên che thân thể.
Cánh cổng thứ hai mở ra, trả lại cho nàng những viên kim cương trên tay và chân.
Cánh cổng thứ ba mở ra, trả lại cho nàng chiếc đai lưng thắt quanh eo.
Cánh cổng thứ tư mở ra, trả lại cho nàng những viên ngọc nhỏ xinh trên trán.
Cánh cổng thứ năm mở ra, trả lại cho nàng những đá quý trên đầu.
Cánh cổng thứ sáu mở ra, trả lại cho nàng đôi hoa tai.
Cánh cổng thứ bảy mở ra, trả lại cho nàng chiếc vương miện lớn trên đầu.“1
Vở kịch phép lạ cổ xưa này của Thiên nhiên – sự trở lại của mùa hè qua từng đóa hoa – được giải mã từ một phiến đất sét Assyria cổ đại tại một thị trấn chỉ cách nơi đó vài giờ đường, nơi một nhóm tín đồ vẫn lặp lại nghi thức tương tự vào mỗi dịp Hạ chí! Myfyr Morganwg, vị Đại Tư tế Druid, vẫn tôn thờ danh xưng Hea là Đấng Cứu Thế của mình, và vào ngày Đông chí, ông tập hợp các huynh đệ để tán tụng sự hiện diện của Ngài nhằm đập nát đầu con Rắn của Âm phủ (Annwn, gần giống cái tên trong phiến đất sét), để mùa gieo hạt và mùa gặt hái sẽ không bị thất bát.
Liệu đây có phải là một tàn dư văn hóa? Hẳn nhiên là vậy; nhưng không có giáo phái nào trên thế giới mà nếu ta “cào nhẹ” lớp vỏ bên ngoài – như ngạn ngữ đã nói – lại không lộ ra quan niệm tương tự bên dưới. Dù có được thần thánh hóa đến đâu, mọi “kế hoạch cứu độ” đều được đúc trong khuôn mẫu của Mùa Đông bị Mặt Trời khuất phục, sự Giáng lâm của Tình Yêu xuống Hạ giới, và sự giải phóng những mầm mống bị giam cầm của Sự Sống.
Sẽ rất bổ ích nếu so sánh huyền thoại Ishtar với chuyện Hermödr tìm cách giải cứu Baldur Xinh đẹp khỏi cõi Helheim (Địa ngục Bắc Âu).
Những thế lực chết chóc của Mùa Đông được đại diện trong truyền thuyết Edda qua cái chết của Baldur – Ánh sáng mùa hè dịu nhẹ, vị thần Baal của Bắc Âu. Người anh em mù lòa của chàng, Hödr, chính là Bóng tối; ác quỷ đã dẫn đường cho mũi tên của hắn là Loki – ngọn lửa ngầm dưới lòng đất; chính mũi tên làm từ cây tầm gửi, loài cây được nuôi dưỡng bởi Mùa Đông, vốn không chịu quy phục Baldur; và vương quốc nơi chàng bị đưa đến là Hel, vùng đất băng giá. Hermödr, khi đến nơi, đã cam đoan với Nữ chúa Hel rằng các vị thần đang tuyệt vọng vì mất Baldur. Nữ hoàng đáp rằng giờ đây cần phải thử xem liệu Baldur có thực sự được yêu mến đến thế hay không. ‘Vậy nên, nếu vạn vật trên thế gian, cả sinh linh lẫn vô tri, đều khóc thương chàng, chàng sẽ được trở về với các vị thần Æsir.’ Cuối cùng, tất cả đều khóc, ngoại trừ mụ già Thokk (Bóng tối), kẻ từ trong hang động của mình đã hát rằng:
Thokk sẽ than khóc
Với đôi mắt ráo hoảnh
Bên giàn hỏa thiêu của Baldur.
Dù sống hay chết
Ta chẳng bận tâm con trai lão Carl.
Hãy để Hel giữ lấy những gì thuộc về mụ.
Vậy là Baldur vẫn ở lại Helheim. Huyền thoại này rất giống với sự Giáng lâm của Ishtar. Với giọng điệu tương tự, sứ giả của các vị thần phương Nam khóc than và tự hành hạ thân xác khi kể lại nỗi đau buồn của thế giới bên trên, và tất cả loài người cùng muôn thú đều sầu thảm ‘kể từ khi mẹ Ishtar giáng xuống Âm phủ‘. Nhưng trong huyền thoại phương Nam, người sứ giả đã thành công, còn ở phương Bắc thì thất bại. Trong các huyền thoại tương ứng ở những vùng khí hậu ấm áp và đầy nắng, nỗ lực giải cứu thường thành công ít nhiều, tỷ lệ thuận với độ dài của mùa đông. Trong chuyện Adonis được giải phóng khỏi Âm phủ bốn tháng mỗi năm, và thêm bốn tháng nữa nếu chàng chọn rời bỏ Persephone để đến với Aphrodite, ta thấy sự phản chiếu của một năm với các mùa thay đổi. Điều đó, cùng huyền thoại tương tự về Persephone, thay đổi về thời gian quy định cho việc họ ở thế giới bên trên và bên dưới, có lẽ phù hợp với đặc điểm khí hậu của các vùng nơi câu chuyện được kể. Nhưng ở vùng nhiệt đới, người ta dễ tin vào sự giải phóng hoàn toàn, như trong huyền thoại Ishtar. Trong các huyền thoại Mangaian, người hùng Maui thoát khỏi hạ giới rực lửa nhờ sự trợ giúp của một chú chim bồ câu đỏ.
Khi cuộc chiến giữa Cái Chết của Mùa Đông và Sự Sống của Mùa Xuân được nhân cách hóa, nó trở thành Hercules đánh bại Thần Chết và giải phóng hoàn toàn Alcestis. Khi nó được thần học hóa, nó trở thành Đấng Christ chiến thắng Tử thần và Hỏa ngục, giải phóng các linh hồn khỏi ngục tù. Sự hoang tàn của mùa đông phải được mô phỏng một cách nhân tạo trong bốn mươi ngày Chay tịnh, kết thúc bằng cú đâm của ngọn giáo (mũi tên tầm gửi) giữa bóng tối (Hödr mù lòa). Nhưng huyền thoại về sự phục sinh nhanh chóng phải được bảo tồn một cách nhân tạo ở vùng viễn Bắc. Truyền thuyết về một chiến thắng trọn vẹn trước Tử thần và Địa ngục không thể bắt nguồn từ tổ tiên Bắc Âu. Câu chuyện duy nhất tương tự của họ, chuyện về Iduna, kể rằng sự hồi phục của nàng từ tay bọn Khổng lồ mang lại sức khỏe cho các vị thần, chứ không phải cho con người. Mà chính từ phương Nam, con người mới được nghe tin mừng về sự giải cứu cho trái đất và nhân loại.
Chúng ta ngày nay không thể hình dung được những tin mừng ấy là gì khi tân phúc âm này được rao giảng cho các dân tộc đang sống trong những vùng băng giá và u tối, sau khi nó đã bị áp đặt lên họ trái với những nỗi sợ hãi miễn cưỡng. Dưới muôn vàn hình thức, cuộc chiến cổ xưa được tái hiện trong các lễ hội của họ, và những dân tộc vốn từ lâu đã phủ phục và bất lực trước các sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên không bao giờ chán nghe những ngụ ngôn phương Nam về những chiến thắng anh hùng trước các thế lực ấy, vốn từ lâu được hiểu theo nghĩa vật lý đơn thuần.
Quỷ Vương của Thế giới Phương Bắc vẫn là Mùa Đông, và mối hận thù truyền kiếp đối với hắn lớn đến mức hắn vẫn bị nguyền rủa, bị đánh đòn, bị giết, bị chôn hoặc dìm nước dưới nhiều tên gọi và lốt vỏ khác nhau. Ở mọi quốc gia Slav, theo lời ông Ralston, vào khoảng thời gian lễ hội hóa trang, người ta vẫn tìm thấy dấu vết của các nghi thức cổ xưa nhằm biểu trưng cho cái chết của Mùa Đông và sự ra đời của Mùa Xuân hoặc Mùa Hè. Ở Ba Lan, một hình nhân làm bằng gai hoặc rơm bị ném xuống ao hoặc đầm lầy với câu nói: ‘Quỷ tha ma bắt ngươi đi!‘ Sau đó, những người tham gia vội vã chạy về nhà, và nếu ai vấp ngã, người ta tin rằng kẻ đó sẽ chết trong năm. Ở vùng Thượng Lausatia, một hình nộm tương tự bị buộc vào cột để ném đá, rồi được đưa đến ranh giới làng và ném qua đó hoặc quăng xuống nước, những người khiêng nó trở về mang theo cành cây xanh.2 Đôi khi hình nộm được liệm vải trắng, tượng trưng cho tuyết, tay cầm chổi (cơn bão càn quét) và lưỡi liềm (tử thần gặt hái). Ở Nga, ‘Mujik Rơm‘ bị đốt, và ở Bulgaria cũng vậy; tại Bulgaria, đống lửa được đốt kèm theo tiếng súng, cùng những điệu m úa và bài ca dâng lên Lado, nữ thần Mùa Xuân. Hồi ức này về Leto, người mà vì Apollo đã giết con Mãng xà Python, càng trở nên ấn tượng hơn bởi tuần lễ bắn cung đi kèm, gợi nhớ đến những mũi tên tia nắng của vị thần. Ở Tây Ban Nha và Ý, hình nhân quỷ dữ bị đánh đòn dưới cái tên Judas, cũng giống như trường hợp trong buổi trình diễn Thứ Sáu Tuần Thánh hàng năm của các thủy thủ Bồ Đào Nha tại Bến cảng London. Ông Tylor đã tìm thấy ở Mexico một phong tục tương tự, với Judas là một con quỷ có sừng và móng guốc thực sự. Ở Scotland, các phụ kiện tiền Kitô giáo của một phong tục tương ứng còn rõ rệt hơn cả về thời gian (ngày cuối cùng của năm, theo lịch cũ) và địa điểm.
‘The Clavie’, cái tên bí ẩn của phong tục đốt hình nhân Mùa Đông, diễn ra vào ngày 12 tháng 01 năm 1878 tại Burghead, một làng chài gần Forres, nơi có một bàn thờ La Mã cổ được dân địa phương gọi là ‘Douro’. Một thùng hắc ín được châm lửa và một ngư dân mang đi vòng quanh thị trấn, trong khi mọi người hò reo cổ vũ. (Nếu người mang thùng ngã, đó là điềm gở). Thùng lửa, sau khi đi vòng quanh thị trấn, được mang lên đỉnh đồi và đặt trên Douro. Nhiên liệu được thêm vào. Những tia lửa bay lên được cho là phù thủy và tà thần đang rời khỏi thị trấn; do đó mọi người la hét và nguyền rủa chúng khi chúng tan biến vào hư không. Khi thùng hắc ín đang cháy vỡ ra từng mảnh, những người phụ nữ bán cá lao vào cố lấy một mẩu gỗ đang cháy từ đống tàn dư; ngọn lửa trên bếp lò trong nhà sẽ được nhóm ngay bằng mẩu gỗ này, và người ta tin rằng giữ cho ngọn lửa này cháy suốt phần còn lại của năm sẽ mang lại may mắn. Than của Clavie được thu gom và đặt vào ống khói để ngăn phù thủy và tà thần xâm nhập vào nhà. Douro được phủ một lớp hắc ín dày từ những ngọn lửa được đốt hàng năm trên đó. Gần đó là một cái giếng La Mã rất cổ.
Thật là một sự trớ trêu của từ nguyên học khi từ ‘Hell’ (Hỏa ngục) lại có nghĩa là một nơi tối tăm không có lửa. Việc tên của nữ quỷ Bắc Âu Hel, tương ứng về mặt ngữ âm với Kali, ‘Kẻ Đen Đúa’ (tiếng Goth: Halja), kẻ có nơi ở là một cái hố băng giá, lại được bảo tồn như tên gọi của một nơi chốn đày ải rực lửa, cũng không phải là không có ý nghĩa. Ở những vùng mà cái lạnh được biết đến ở mức độ khó chịu cũng như cái nóng, chúng ta thường thấy nó hiện diện trong các ý niệm về sự trừng phạt ở kiếp sau. Vua của vương quốc này gọi là Hades, mang ý nghĩa giống hệt Hell, gợi lên sự lạnh lẽo. Tertullian và Jerome nói rằng chính những cụm từ của Chúa Kitô như ‘bóng tối bên ngoài’ và ‘nghiến (đánh bò cạp) răng’ gợi ý về một nơi cực kỳ lạnh lẽo xen kẽ với cái nóng tột độ. Dấu vết của những suy đoán tương tự được tìm thấy nơi các Rabbi. Rabbi Joseph nói Gehenna có cả nước và lửa. Noah nhìn thấy thiên sứ của cái chết đến gần và trốn ông ta mười hai tháng. Tại sao mười hai? Bởi vì (Rabbi Jehuda giải thích) đó là sự thử thách của tội nhân – sáu tháng trong nước, sáu tháng trong lửa. Dante (theo Virgil) có những tầng địa ngục băng giá cũng như rực lửa3; và ý tưởng này được một số nhà chú giải trau chuốt thành một tuyên bố dường như biến sự luân phiên của hình phạt đời sau thành một cơn sốt rét run cầm cập dữ dội. Milton (Paradise Lost, quyển ii.) đã pha trộn các quan niệm của giáo sĩ Do Thái với quan niệm của Virgil (Æneid quyển vi.) trong bức tranh khủng khiếp của ông về lục địa băng giá, nơi:
Không khí khô khốc
Cháy buốt giá, và cái lạnh thực thi tác động của lửa:
Nơi đó, bị lôi đi bởi các Nữ thần Báo thù chân móng vuốt
Theo những chu kỳ nhất định, tất cả những kẻ bị nguyền rủa
Đều được đưa đến; và lần lượt cảm nhận sự thay đổi cay đắng
Của những thái cực dữ dội, những thái cực càng dữ dội hơn bởi sự thay đổi,
Từ những chiếc giường lửa giận dữ đến chết cóng trong băng
Cái hơi ấm thanh tao mềm mại của họ, và ở đó héo hon
Bất động, bị đóng chặt, và đóng băng tứ phía.
Có thể so sánh với những dòng thơ của Shakespeare trong ‘Measure for Measure’:
Linh hồn hoan lạc
Tắm trong những dòng lũ lửa, hoặc cư ngụ
Trong vùng băng dày rợn người.
Ở Tây Tạng, địa ngục được tin là có Mười sáu tầng, Tám tầng rực lửa, Tám tầng băng giá, điều mà M. Delepierre cho là do sự thay đổi khí hậu nhanh chóng giữa các thái cực nóng và lạnh. Plutarch, khi kể lại thị kiến của Thespesius ở Hades, nói về vùng băng giá ở đó. Denys le Chartreux (De Pœnis Inferni) nói rằng hình phạt khủng khiếp nhất của địa ngục là sự đông cứng. Trong ‘Lịch của những người chăn cừu’ (1506) có một truyền thuyết kể rằng: ‘Lazarus nói, ‘Ta thấy một dòng lũ băng đông cứng, trong đó những kẻ ghen ghét nam và nữ bị nhúng ngập đến rốn, và rồi đột nhiên một cơn gió lạnh cực lớn thổi đến và nhấn chìm tất cả những kẻ ghen ghét xuống nước lạnh đến nỗi không còn nhìn thấy gì của họ nữa.’ Tương tự như vậy là thị kiến của Ardá Viráf người Ba Tư.
Ác quỷ Giá lạnh, một cách tự nhiên, có môi trường sống ở mọi vùng phương Bắc. Hắn là Ke-mung của Trung Quốc, kẻ – hình người, đầu rồng – ám sông Trường Giang (Chang) và gây ra bão tố. Ở Greenland, đó là Erleursortok, kẻ chịu đựng những cơn sốt rét vĩnh viễn và nhảy bổ vào các linh hồn khi chết để thỏa mãn cơn đói. Các Chenoo (ác quỷ) của người Micmac ở Nova Scotia thể hiện những đặc điểm nhất định của các quỷ chủng tộc, nhưng lạnh lẽo đến đáng sợ. Vũ khí của Chenoo là sừng rồng, tiếng thét của hắn gây tử vong cho người nghe, trái tim hắn là một khối băng. Trái tim này phải bị phá hủy nếu muốn giết con quỷ, nhưng chỉ có thể làm được bằng cách nung chảy trong lửa: sự đề phòng chính yếu là không được chết đuối trong dòng lũ do băng tan gây ra. Con quỷ băng giá tồn tại lâu dài ở Scotland. Sir James Melville, trong ‘Hồi ký’ của mình, nói rằng ‘tinh linh hay con quỷ giúp các phù thủy Scotland gây bão trên biển Na Uy lạnh như băng và cơ thể cứng như sắt; mặt hắn khủng khiếp, mũi như mỏ đại bàng, mắt rực lửa, tay chân đầy lông lá, với móng vuốt như bằng mã’. Bác sĩ Fian đã bị thiêu sống vì triệu hồi con quỷ này để chống lại James I trong chuyến đi bão tố từ Đan Mạch.
Loại quỷ này ám ảnh tâm trí người dân ở Scandinavia, nơi mà dù truyền thống về quỷ lửa (Loki) và sự tận thế bằng lửa đã được du nhập, nhưng niềm tin dân gian dường như chủ yếu bị chiếm cứ bởi những tên Khổng lồ Băng giá, và thần Oegir đáng gờm, vị thần của những cơn gió đông biển ảm đạm, được bảo tồn trong từ awe (nỗi kinh hoàng) của chúng ta (Anglo-Saxon ege), và trực tiếp hơn trong tên của con quỷ quen thuộc, Ogre (Chằn tinh), kẻ thường bị giết trong vùng đất Gladsheim của trẻ thơ. Loki (lửa), quả thực, đã nhanh chóng bị các vị thần Æsir đày xuống một vương quốc ngầm ẩn giấu, nơi sự tồn tại của hắn chỉ có thể được biết đến qua các trận động đất, mạch nước phun và phun trào núi lửa Hecla mà hắn gây ra. Tuy nhiên, hắn sẽ xuất hiện vào ngày Ragnarök, Hoàng hôn của các Chư thần. Chúng ta có thể thấy một sự pha trộn kỳ lạ giữa các vùng nhiệt đới và hàn đới – một là truyền thống, một là bản địa – trong Văn xuôi Edda.
Như: “Cái gì sẽ còn lại,” Gangler hỏi, “sau khi trời và đất cùng toàn thể vũ trụ bị thiêu rụi, và sau khi tất cả các vị thần cùng những ngôi nhà của Valhalla và toàn thể nhân loại đã diệt vong?” “Sẽ có nhiều nơi ở,” Thridi đáp, ‘một số tốt, một số xấu. Nơi tốt nhất trong tất cả sẽ là Gimil, trên thiên đường; và tất cả những ai thích uống rượu ngon sẽ tìm thấy một kho dự trữ lớn trong sảnh đường gọi là Brimir, cũng ở trên thiên đường tại vùng Okolni. Cũng có một sảnh đường đẹp bằng vàng ròng, (dành cho) Sindri, đứng trên núi Nida. Trong những sảnh đường đó, những người công chính và thiện tâm sẽ trú ngụ. Tại Ná-strönd có một cấu trúc rộng lớn và khủng khiếp với những cánh cửa hướng về phía bắc. Nó được hình thành hoàn toàn từ lưng của những con rắn, đan vào nhau như đồ mây tre. Nhưng đầu của những con rắn quay vào phía trong sảnh đường, và liên tục nôn ra những dòng lũ nọc độc, trong đó những kẻ phạm tội giết người hoặc thề gian phải lội qua. Như đã nói trong Völuspá:
Bà thấy một sảnh đường
Xa khỏi mặt trời
Đứng tại Náströnd,
Cửa nhìn về hướng Bắc,
Và những giọt nọc độc
Rơi qua các lỗ thông hơi.
Sảnh đường ấy được tạo thành
Từ những con rắn cuộn mình.
Ở đó bà ấy lội
Qua những dòng nước nặng nề
Những kẻ thề gian
Và những kẻ sát nhân.
Những cái tên này cho các vùng thiên đường và cư dân của chúng chỉ về ánh nắng và lửa. Gimil nghĩa là lửa (gímr): Brimir (brími, ngọn lửa), gã khổng lồ, và Sindri (xỉ than), chú lùn, thợ kim hoàn của các vị thần, được đưa lên những sảnh đường bằng vàng. Không có gì được nói về một khu vườn, hay việc đi dạo trong đó ‘vào lúc chiều mát‘. Mặt khác, Ná-strönd nghĩa là Bờ biển của Người chết, ở vùng đó nơi ‘cửa hướng về phía bắc, xa khỏi mặt trời,‘ chúng ta thấy một hỏa ngục (inferno) của sự lạnh lẽo tột cùng. Kitô giáo đã không thể mang lại cho người Iceland bất kỳ cái tên quỷ quái nào gợi ý về lửa. Họ nói về ‘Skratti’ (kẻ gầm rống, có lẽ là Old Scratch của chúng ta), và ‘Kolski’ (kẻ đen như than), nhưng không hứa hẹn điều gì sáng sủa và ấm áp như lửa hay hỏa tinh cho kẻ làm ác.
Trong Sử thi vĩ đại Nibelungen Lied, chúng ta có lẽ có được hình dạng mà giấc mơ về Thiên đường của người phương Bắc cuối cùng đã kết tụ lại, – một Vườn Hồng ở phương Nam, được canh giữ bởi một con Giun khổng lồ (rắn nước, hay biển băng lấp lánh chắn ngang), mà vẻ đẹp rực rỡ của nó, với Sắc đẹp (Chriemhild) là nữ hoàng, chỉ có thể giành được bởi một Siegfried dũng cảm diệt rồng. Khi đi ngang qua ngôi nhà xinh đẹp bên hồ của Richard Wagner, trên đường đến chứng kiến phiên bản Ammergau của một huyền thoại trói rồng và giành lại thiên đường khác, tôi nhận thấy tên cũ của hồ Starnberg là Wurmsee, từ con rồng từng ám nó, trong khi từ cửa sổ của nhà soạn nhạc có thể nhìn thấy ‘Đảo Hoa Hồng’ của hồ, nơi con rồng canh giữ. Kể từ đó, huyền thoại đa hình hài đã có sự tôn vinh bằng âm nhạc tại Bayreuth dưới chiếc đũa thần của ông.
Nước Anh, có lẽ một phần do khí hậu khắc nghiệt, từng có tiếng là nơi cư ngụ chính của loài quỷ. Một nữ quỷ rời bỏ người tình ở Lục địa nói: ‘Mẹ ta đang gọi ta ở Anh.’ Nhưng nước Anh lại gán cho chúng những vĩ độ cao hơn nữa; trong việc Kitô hóa Ireland, Iona và các đảo khác xa về phía bắc, bước đầu tiên là trục xuất lũ quỷ. ‘The Clavie’, ‘Deis-iuil’ của Lewis và các đảo Hebrides khác – lửa được mang quanh gia súc để bảo vệ chúng khỏi quỷ dữ, và quanh những người mẹ chưa làm lễ tạ ơn sau sinh, để giữ cho đứa trẻ không bị ‘đánh tráo’ – cho thấy việc trục xuất vẫn tiếp diễn, mặc dù ở những vùng như vậy, các quan niệm Bắc Âu và Kitô giáo đã trở nên lẫn độn đến mức đó là ‘lấy lửa trị quỷ‘. Vì vậy trong Havamal, con người được cảnh báo hãy cầu viện ‘lửa cho các chứng bệnh;‘ và Gudrun hát:
Hãy dựng lên, hỡi các Jarl, một giàn hỏa thiêu gỗ sồi;
Hãy để nó là thứ nhẹ nhất dưới bầu trời.
Cầu cho nó đốt cháy một lồng ngực đầy sầu muộn!
Ngọn lửa quanh tim ta làm tan chảy nỗi đau.
Câu cuối tương phản với câu nói của người Hindu, “ngọn lửa từ giàn hỏa thiêu của chồng làm mát dịu lồng ngực người góa phụ.“
Đặc điểm của Thiên đường và Địa ngục phương Bắc tồn tại trong phong tục Anh chôn cất người chết ở phía nam nhà thờ. Phong tục này phổ biến rộng rãi như thế nào trong thời của Brand có thể thấy qua tham chiếu chương viết về nghĩa trang của ông. Phía bắc của nghĩa trang được dành riêng cho trẻ sơ sinh chưa được rửa tội và tội phạm bị hành quyết, và người dân được phép khiêu vũ hoặc chơi tennis ở phần đó. Tiến sĩ Lee nói rằng tại nghĩa trang ở Morwenstow, chỉ phần phía nam chứa các ngôi mộ, phần phía bắc không có người ở; vì người Cornish tin (theo các truyền thống cũ) rằng phía bắc là vùng của quỷ dữ. Ở một số giáo xứ của Cornwall, khi một lễ rửa tội diễn ra, cửa phía bắc của gian giữa đối diện với giếng rửa tội được mở toang, để con quỷ bị trục xuất có thể rút lui về vùng của nó, phía bắc. Điều này phù hợp với câu nói trong ‘Month’s Mind’ của Martin – ab aquilone omne malum (mọi điều ác đến từ phương bắc).
Quả thực, không phải là không có khả năng sự thật được White ghi lại trong ‘Lịch sử Selborne’, rằng ‘lối vào thông thường của hầu hết các nhà thờ nông thôn là ở phía nam’, chỉ ra một niềm tin rằng tòa nhà thiêng liêng nên quay lưng lại với vùng của quỷ dữ. Thật là một ví dụ độc đáo về sự tàn dư văn hóa đã mang lại sự thật rằng những người sùng kính lắng nghe các bài giảng mô tả tính chất rực lửa của Satan và nơi ở của hắn lại bao quanh chính những nhà thờ nơi các bài giảng đó được nghe bằng những bằng chứng về niềm tin còn sót lại của họ rằng ma quỷ thuộc về vùng băng giá, và người chết của họ phải được chôn cất theo hướng của những nơi ở hạnh phúc của Brimir và Sindri, – Lửa và Xỉ than!
Ông François Lenormant đã viết một chương cực kỳ bổ ích so sánh thần thoại Accad và Phần Lan. Ở đó, ông chỉ ra rằng chúng như cùng một cái cây, thích nghi với những khí hậu đối nghịch. Với bộ ba thần linh, cổ tự rune, bùa chú, và thậm chí tên gọi tương tự trong một số trường hợp, sự tôn kính của họ đối với ngọn lửa được cả hai tôn thờ thay đổi theo cách thoạt nhìn có vẻ hơi bất thường. Người Accad trong việc thờ lửa đã dùng hết mọi ngôn từ ca ngợi để gán vinh quang và quyền năng cho ngọn lửa; người Phần Lan trong ngôi nhà lạnh lẽo của mình cử hành lễ hội lửa vào ngày Đông chí, thốt lên những lời cầu khẩn trên ngọn lửa, và người mẹ trong gia đình, với lễ tưới rượu tại gia, nói: ‘Hãy luôn bốc cao, hỡi ngọn lửa của ta, nhưng đừng cháy lớn hơn hay dữ dội hơn!‘ Sự giảm sút nhiệt tình này ở người thờ lửa phương Bắc, so với người phương Nam, có thể chỉ là kết quả của lối nói giảm nói tránh ở người sau; hoặc có lẽ trong khi tính chất đáng gờm của thần lửa giữa những người Assyria nguyên thủy được biểu thị trong sự phủ phục hoàn toàn trước ngài, đặc trưng cho các kinh cầu và lời khẩn nguyện của họ, thì trong trường hợp của người Phần Lan, sự hiện diện thường trực của cái lạnh quyền năng hơn đã dẫn đến sự tôn thờ bớt thái quá hơn. Họ dám nhận ra những lỗi lầm của lửa.
Bản chất thực sự của sự bất thường này trở nên rõ ràng khi chúng ta xem xét đến Quỷ vương, bị khiếp sợ bởi cả hai quốc gia có cùng nguồn gốc tín ngưỡng, đại diện cho sự thái quá của sức mạnh đáng sợ nhất. Con quỷ trong mỗi trường hợp là một cơn gió; giữa người Phần Lan là gió bắc, giữa người Accad là gió tây nam (gió nóng nhất). Quỷ Phần Lan là Hiisi, lao đi trên con ngựa nhợt nhạt qua không trung, với một đoàn tùy tùng khủng khiếp gồm những con chó quái vật, mèo, các nữ thần báo thù, gieo rắc đau đớn, bệnh tật và cái chết. Quỷ Accad, mà hình tượng bằng đồng của nó nằm trong bảo tàng Louvre, là thân một con chó, đứng thẳng trên chân đại bàng, tay có móng vuốt sư tử; nó có đuôi bọ cạp và đầu của một bộ xương, nửa tróc thịt, giữ lại đôi mắt, và gắn sừng dê. Nó có bốn cánh dang rộng. Trên lưng của hình tượng kinh dị đầy khéo léo này là một dòng chữ bằng ngôn ngữ Accad, cho chúng ta biết rằng đó là con quỷ của gió tây nam, được làm ra để đặt ở cửa ra vào hoặc cửa sổ, nhằm ngăn chặn hành động thù địch của nó.

Khi chúng ta quan sát những hình tượng như thế này một mặt, và mặt khác là những thực thể tốt đẹp được tưởng tượng là đối kháng với chúng; khi chúng ta ghi nhận trong cổ tự rune và thần chú việc người xưa cảm thấy mình bị bao vây bởi những thế lực thiện và ác này mãnh liệt đến mức nào, và, đọc thiên nhiên như vậy, đã học cách nhìn thấy trong các mùa lần lượt chinh phục và bị chinh phục bởi nhau, và sự luân phiên của ngày dài hơn và đêm dài hơn, vận mệnh thay đổi của một cuộc chiến không bao giờ kết thúc; chúng ta có thể nhận ra rõ hơn ý nghĩa của các lễ hội chí điểm, những phong tục tập hợp quanh Yuletide và Năm Mới, và vô số tàn dư từ chúng hàng năm vẫn ngụy trang trong trang phục và tên gọi Kitô giáo. Đối với tổ tiên thờ mặt trời của chúng ta, năm mới có nghĩa là lợi thế mong manh đầu tiên của thời tiết ấm áp hơn so với mùa đông, gần nhất mà họ có thể xác định. Sự lơ lửng của ngày giữa ưu thế của ánh sáng và bóng tối giờ đây được đặt tên theo Thánh Thomas đa nghi. Vào Yuletide, chiến thắng rạng đông của mặt trời được nhìn thấy như một hài nhi thánh thiện trong máng cỏ giữa bầy thú trong chuồng. Tục thờ thiên nhiên cũ đã để lại cho đức tin Kitô giáo một chiếc áo choàng vừa vặn. Nhưng ý tưởng cũ về một cuộc chiến giữa các thế lực mùa đông và ấm áp vẫn ám ảnh giai đoạn của Năm Mới; và mười hai ngày đêm, từng được tin là thời kỳ của một cuộc chiến khốc liệt giữa các ác quỷ và thiện thần, vẫn được nhiều người coi là thời kỳ cần đặc biệt cảnh giác và cầu nguyện. Đêm Giao Thừa, ở miền bắc nước Anh vẫn gọi là ‘Hogmanay’, – có lẽ là O. N. höku-nött, đêm giữa mùa đông, khi các vật tế của Thor được chuẩn bị, – trước đây có nhiều nghi thức phản ánh niềm tin rằng những hồn ma thiện và ác đang tranh giành mỗi người đàn ông và phụ nữ: không khí được tin là tràn ngập chúng, và phải canh giữ để ngọn lửa bảo vệ không tắt trong bất kỳ gia đình nào; rằng không có người lạ, phụ nữ, hay động vật nào đến gần, – có thể là một con quỷ cải trang. Những cây thiêng được đặt ở cửa ra vào và cửa sổ để ngăn chặn sự xâm nhập của bất kỳ thực thể ác ý nào từ đám đông lấp đầy không trung. John Wesley, người có trái tim cao thượng liên kết với một tâm trí cởi mở lạ kỳ trước những câu chuyện về yêu tinh, đã dẫn đường cho các nhà thờ và giáo phái quay trở lại bầu không khí cổ xưa này. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy lý của thời đại đã ảnh hưởng đến Lễ Thánh Wesley – Đêm Canh Thức. Nó khó có thể nhận ra người anh em của mình trong Yến tiệc Đầu Heo của Queen’s College, Oxford, vốn ăn mừng chiến thắng trước mùa đông răng nanh, con quỷ bị chặt đầu mà lông cứng từng là những cột băng rơi xuống dưới các tinh linh rừng của cây nhựa ruồi và hương thảo. Tuy nhiên, điều mà Đêm Canh Thức thực sự biểu thị theo nghĩa khảo cổ học chính là cuộc chiến đỉnh điểm cũ kỹ đó giữa các thế lực của lửa và băng giá, từng được tin là định đoạt số phận con người. Ở Bạch Nga (Belarus), vào Ngày Năm Mới, khi cuộc chiến nguyên tố hàng năm đã được định đoạt, kẻ chết và bị thương ở một bên, và kẻ may mắn ở bên kia, được kể lại bằng cách mang từ nhà này sang nhà khác những Kolyada giàu và nghèo. Đây là hai đứa trẻ, một đứa mặc trang phục đẹp đẽ, và đội vòng hoa kết từ những bông lúa trĩu hạt, đứa kia rách rưới, và đội vòng hoa rơm đã đập hết hạt. Sau khi được che kín, mỗi chủ nhà được gọi vào, và chọn một. Nếu ông ta chọn trúng ‘Kolyada nghèo’, dàn đồng ca đi cùng sẽ hát một điệu sầu thảm, trong đó ông ta được cảnh báo phải đón nhận một vụ mùa thất bát, nghèo đói, và có lẽ là cái chết; nếu ông ta chọn ‘Kolyada giàu’, một bài hát vui tươi sẽ được cất lên hứa hẹn vụ mùa, sức khỏe và sự giàu có.
Người dân bản địa ở một số quận của Dardistan gán ý nghĩa chính trị và xã hội cho Lễ hội Lửa của họ, được tổ chức vào tháng trước mùa đông, vào ngày trăng non, ngay sau khi nguồn cung cấp thịt cho mùa đông được cất vào để làm khô. Truyền thuyết của họ kể rằng chính khi đó, người anh hùng dân tộc của họ đã giết bạo chúa cổ xưa và mang lại sự cai trị tốt đẹp. Truyền thuyết này, được kể ở nơi khác, là về một bạo chúa bị giết nhờ phát hiện ra trái tim hắn làm bằng tuyết. Hắn bị giết bởi hơi ấm của những ngọn đuốc. Trong các lễ kỷ niệm, tất cả đàn ông trong làng đi ra với những ngọn đuốc, họ quay chúng quanh đầu và ném về hướng Ghilgit, nơi tên bạo chúa có trái tim tuyết đã chiếm giữ lâu đài của hắn bấy lâu. Khi những người chồng trở về nhà sau khi ném đuốc, một vở kịch nhỏ được diễn tập. Những người vợ từ chối cho họ vào cho đến khi họ cầu xin, kể lại những lợi ích họ đã mang lại; sau khi được vào, người chồng giả bộ hờn dỗi, và phải được dỗ dành bằng những cử chỉ âu yếm để tham gia vào bữa tiệc. Người vợ dẫn ông ta tiến lên với bài hát này: – ‘Chàng đã làm thiếp vui, hỡi người được Rajah sủng ái! Chàng đã làm thiếp hân hoan, hỡi kỵ sĩ dũng cảm! Thiếp hài lòng với chàng, người sử dụng súng và gươm điêu luyện! Chàng đã làm thiếp thích thú, hỡi người khoác áo choàng danh dự! Ôi hạnh phúc lớn lao, thiếp sẽ mua nó bằng cái giá của lạc thú! Ôi nguồn dinh dưỡng cho chúng ta, đống ngô, kho bơ lỏng (ghee) —thiếp sẽ vui sướng mua tất cả bằng cái giá của lạc thú!’
- Xem qua bài thơ này, tôi thấy có sự chuyển đổi 4 mùa theo từng thời kỳ, việc mô tả ẩn dụ trang phục và trang sức, giống như sức sống của Thiên nhiên đang khoác lên người “Mẹ của muôn loài”. ↩︎
- Những hình tượng này làm tôi nhớ đến bộ phim The Wicker Man, tôi thích phiên bản 1973, vừa xưa cũ, vừa thơ, mà cũng kinh dị. Cảnh cuối cùng người đàn ông cũng đau khổ như Chúa Jesus sắp chết, nhưng vẫn không than trách Thiên Chúa. Một bộ phim rất ấn tượng với tôi. ↩︎
- Hình ảnh địa ngục này cũng trùng hợp với ý nghĩ địa ngục trong Phật giáo Mật tông. ↩︎
