nghiên cứu về Ấn

Nghiên cứu về Ấn

by Pao Pevil
85 views

Người muốn học pháp thuật Đạo Giáo cần có sự hiểu biết rõ ràng về Ấn Pháp, trong tất cả các pháp thuộc Đạo Giáo, Ấn là một trong ba thứ cơ bản của Pháp Thuật Đạo Giáo: Ấn, Thủ Quyết và Chú Ngữ. Người học pháp Đạo Giáo bắt buộc phải có Ấn nếu không có Ấn thì khó mà phát huy hết được oai lực của Pháp đó.

Ấn Pháp là gì ?

Ấn pháp là một trong những pháp khí tối quan trọng của Đạo Giáo Trung Hoa, nó đại diện cho quyền năng của các vị tổ sư cao đạo của Đạo Giáo và cũng là một sắc lệnh trong các nghi lễ của Đạo Giáo, Ấn là danh hiệu của Tam Thanh chư thánh, chư thần trong tín ngưỡng đạo giáo, Ấn lấy cốt lõi của Hồn Thần Tư Phủ và cốt lõi quan trọng của Đạo Đức Kinh mà tạo thành, các loại Ấn Chương tượng trưng cho uy quyền và quyền lực của chư Tiên, chư Thánh trong tiên giới, địa giới, giống như thời xưa có các công ấn, ấn chương của các quan lại, vua chúa thời phong kiến, Ấn thường được làm bằng Vàng, Ngọc, Đá, Gỗ, và được sử dụng trong các văn kiện, sớ tấu, điệp thức và bùa để triệu thần linh, làm tăng oai lực của bùa, thông quái đạt linh, trị bệnh, trừ tà, bảo vệ sức khỏe, giúp trường sinh,…

Thường thì tất cả các loại Ấn Chương này trong sách Đạo Giáo có hẳn một hệ thống gọi là “Pháp Ấn”, Hệ thống Pháp Ấn này được ghi chép và phân chia hết sức rõ ràng (Thần Tiêu Ngọc Cách Công Văn trang 36-42) Sách Kim Tỏa Lưu Chu Dẫn quyển 2 có ghi chép và phân cấp các Ấn như sau: Có 6 loại Pháp Ấn được chia thành 3 đẳng cấp, Thiên Tiên Đạo Sĩ được 24 Ấn, Thần Tiên Đạo Sĩ được 15 Ấn, Khảo Chiêu Đạo Sĩ được 12 Ấn.

Sách Thái Thượng Lão Quân Cáo Thiên Đế Quân Nhật cũng ghi chép: Ấn được phân cho 3 đẳng cấp, Thiên Tiên Đạo Sĩ dùng Thượng Thanh Ngọc Hoàng chi Ấn kế đến Nguyên Thủy Chi Ấn là người thường dùng để hành đạo. Thần Tiên Đạo Sĩ dùng Thái Thượng Ngọc Kinh Chi Ấn kế đến là Phi Thiên Cửu Dã Chi Ấn là người thường dùng hành đạo. Các Đạo Sĩ khác thì dùng Thái Thượng Lão Quân Chi Ấn. Vào thời nhà Đường xuất hiện một loạt Pháp Ấn đồng thời cũng xuất hiện các quy định về sử dụng Pháp Ấn một cách hết sức nghiêm ngặt, các Pháp Ấn này được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ Tôn Giáo, chính trong bản sách này cũng có ghi rõ là “Khi sử dụng Ấn để hành pháp cấm tuyệt đối không được dùng ấn đó vào trong văn thư và truyền ra những bản Ấn Phục Bản (Ấn Giả), không sử dụng chung các Ấn đó với hệ thống Ấn quan lại”.

Quy định của Đạo Giáo về Ấn rất nghiêm ngặt và kĩ càng vậy mà ngày nay nhiều người cho là mình tu học theo Đạo Giáo mà lại vi phạm các quy định đó dùng Pháp Ấn để đóng vào sách vở văn thư bừa bãi.

Lịch sử của Ấn

Lịch sử của Ấn Chương đã có từ rất lâu đời, các loại Ấn này đã có sự hình thành trước cả khi Đạo Giáo xuất hiện, các thuật sĩ, thầy mo trong thời Tần, Hán, đã từng dùng Ấn trong các việc tế lễ, trị bệnh, giải tà, thông thần, đạt linh ví như Ấn Hoàng Thần Việt Chương là một trong những Ấn có từ lâu đời và nổi tiếng về sự sắc sảo, thời nay giới huyền môn Đạo Giáo gọi loại Ấn Chương này là Đạo Giáo Ấn, giới Huyền Thuật Việt Nam gọi là Phương Sĩ Ấn hoặc vài nơi có tên gọi khác.

Theo như sách Cổ Ấn Bàn ghi chép lại, vào thời Tần Hán, giới Thuật Sĩ, Thầy Mo sử dụng Hoàng Chương Việt Ấn rất là thịnh hành, tất cả những giới này đều có Ấn này.

Sau này trong các sách Sử Kí, Lý Vũ Bản Kí, Phong Đàn Thư đều thống nhất ghi là Phương Sĩ Ấn, điều này những người đọc sách cổ Trung Hoa nên lưu ý. Ấn Hoàng Thần Việt Chương thường được làm bằng đồng có tay nắm hoặc vòng quanh mạ bạc, còn các loại khác thời cổ đại thường làm bằng bùn đất nén lại ví dụ như Yểm Thắng Ấn hay còn gọi là Ấn Tránh Tà , Việt Nam mình miền bắc gọi là Trảm Tà Ấn, loại Ấn này thường được làm theo kiểu đúc hình một linh vật ở trên như dưới là mặt ấn, ở trong bảo tàng lịch sử tôi có nhìn thấy loại Ấn từ thời Hai Bà Trưng có hình một con Nghê ở trên.

Trong sách của Tấn Cát Hồng có chép người xưa khi nhập sơn tu đạo tất cả đều phải phục Hoàng Việt Chương Chi Ấn (Phục có nghĩa là dùng Ấn đó đóng lên giấy rồi đốt đi hòa với nước mà uống). Trong thời kì trước khi có lưu Truyền Hoàng Việt Chương Ấn thì người xưa hay dùng các loại ấn Thiên Đế Chi Ấn, Thiên Đế Sứ Giả Ấn, Thiên Đế Thần Sư Ấn, Thiên Đế Sử Thông Thư Ấn, Thiên Đế Sát Hồn Truy Ấn, Thiên Hoàng Thượng Đế Chi Ấn, Cao Hoàng Thượng Chi Ấn, Thượng Thiên Thượng Đế Vạn Thần Chương Ấn, Thiên Bắc Thìn Trương Ấn, Thiên Phù Địa Tiết Chi Ấn, tất cả những Ấn trên là tiền thân sơ khai của Ấn Pháp Đạo Giáo.

Đến sau này khi thành lập Đạo Giáo vào thời Đông Hán, sau đó là thời của các Thuật Sĩ thời Tây Hán, đây là thời tạo ra Ấn Chương của Đạo Giáo, theo như sử sách Đạo Giáo ghi chép lại Thời Thiên Sư Đạo Tổ Trương Lăng tạo ra Dương Bình Trị Đô Công Ấn sau đó được con cháu của Trương Thị lưu truyền cho tới tận ngày nay. Trong một số văn kiện cổ bản có liên quan đến Đạo Giáo đều thấy xuất hiện Ấn này, trên các văn tự của Sách Thiên Sư Đạo, (sách đạo sĩ dạng như phù chú), Thái Bình Đạo (là các đạo văn tế).

Thời kì sơ khai Ấn được làm từ rất nhiều chất liệu khác nhau sau này thịnh hành thêm loại Ấn được làm từ gỗ và được sử dụng hết sức rộng rãi cho đến ngày nay hầu như là các Pháp Sư Việt Nam đều dùng các loại Ấn bằng gỗ trong các nghi lễ tế tự, trong sách (Tùy Thư Kinh Tập Chí) có đoạn viết về cách làm Ấn bằng gỗ như sau: Lấy gỗ làm Ấn, vào ngày Thìn khắc Ấn, hai tay chấp Ấn hấp khí, lấy Ấn Trị Bệnh, “Đây là ghi chép đầu tiên về cách làm Ấn gỗ trong lịch sử tuy vẫn còn quá sơ sài nhưng đó cũng là một sự tiến bộ về cách thay đổi chất liệu từ những nguyên liệu quý và khó làm như Vàng, Đá Quý, Ngọc, Ấn làm bằng gỗ sẽ tiện lợi hơn cho các Đạo sĩ bình thường, hoặc người dân chế tạo Ấn Pháp, chính điều này đã làm cho Ấn trở nên phổ cập hơn không bị bó gọn trong những tầng lớp cao quý như trước nữa. Cùng thời kì với Ấn Gỗ thì Ấn làm bằng Đá cũng bắt đầu xuất hiện và được sử dụng song song với Ấn bằng gỗ trong sách (Cao Thượng Thần Tiêu Ngọc Thanh Chân Vương Cẩm Thư Đại Pháp).

Các loại Ấn

Pháp Ấn không những đại diện cho quyền uy của chư Thần Thánh mà còn là tín vật để truyền thụ của các môn phái Đạo Giáo giống như Khăn Ấn của Nam Tông vậy, các Pháp Ấn còn lưu truyền đến ngày nay gồm có khoảng 500 đến 600 loại Ấn, các Ấn Pháp thường được chia làm 4 loại như sau:

Loại 1: Lấy danh hiệu Thần Tôn của Đạo Giáo để làm Ấn Văn như: Cửu Lão Tiên Đô Ấn, Lôi Hỏa Đại Tướng Ấn, Tam Thiên Nội Húy Ấn, Thiên Bồng Ấn, Lục Đinh Ngọc Nữ Ấn, Hoàng Thần Ấn, Đô Thiên Đại Pháp Chủ Ấn, Cửu Lão Đế Quân Ấn, Na Da Thiên Nữ Ấn, Cửu Thiên Huyền Nữ Ấn, Tam Hoàng Ấn, Đế Quân Ấn, Thái Vi Đế Quân Ấn, Thiên Đế Thần Ấn, Bắc Cực Đại Tướng Quân Ấn, Thái Huyền Thiên Đế Ấn, Chân Vũ Ấn, Đạo Quân Ngọc Ấn, Thiên Bảo Quân Ấn.

Các loại Ấn pháp chuẩn bị làm.

Loại 2: lấy danh của các vị thần, đạo chức để làm Ấn như: Hoàng Lục Viện Ấn, Ngũ Lôi Sử Viện Ấn, Lôi Đình Đô Ty Ấn, Nguyên Ứng Thái Hoàng Phủ Ấn, Nguyên Cảnh Đan Thiên Phủ Ấn, Nguyên Hòa Thiên Giáo Phủ Ấn, Nguyên Chiếu Linh Hư Phủ Ấn, Đề Cử Thành Hoàng Ti Ấn, Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn, Luyện Độ Ti Ấn, Thái Huyền Đô Tỉnh Ấn, Bắc Cực Khu Tà Viện Ấn, Thượng Thanh Thiên Xu Viện Ấn, Dương Bình Trì Đô Công Ấn.

Loại 3: Lấy kinh văn để khắc ấn như: Bát Uy Văn Ấn, Xích Thư Ngọc Tự Ấn, Hỗn Hợp Bách Thần Ấn, Hỗn Đồng Xích Văn Ấn, Linh Thư Trung Thiên Ấn, Nguyên Thủy Phù Mệnh Ấn, Ngũ Đế Đại Ma Ấn.

Loại 4: Lấy hình phù lục và chú ngữ để khắc Ấn như: Ngọc Thanh Thông Chương Ấn, Hoàng Thần Ấn, Việt Chương Ấn, Đại Khôi Tổng Giám Ấn, Bắc Đế Phong Đô Triệu Quỷ Thần Ấn, Bắc Cực Giám Sát Thần Ấn, Thiên Tín Ấn, Địa Tín Ấn, Nhân Tín Ấn, Tín Ấn, Hồ Tín Ấn, Vân Tín Ấn, Phong Tín Ấn, Kim Tín Ấn, Mộc Tín Ấn, Thủy Tín Ấn, Hỏa Tín Ấn, Thổ Tín Ấn.

Cách tạo Ấn

Quyển số 8 có ghi lại cách tạo Ấn như sau: Phàm khi tạo Ấn chọn ngày Giáp Tý, Canh, Giáp, mặt hướng về phía Đông Nam, lấy giờ Thìn, Tị, vào trong Tịnh Thất đốt hương cầu khấn, nói rõ lý do định làm, sau đó dùng tinh khí thổi vào gỗ, sau đó khắc Ấn trong 1 canh giờ phải thành không được đứt đoạn, vật liệu phải chọn Ngọc Thạch hoặc là Lõi Cây Táo, trong vài pháp có đòi hỏi là Gỗ Cây Táo bị sét đánh, thì cũng không hẳn phải là Gỗ Táo bị sét đánh mà có thể dùng gỗ táo thường hoặc dùng gỗ Trầm, Tùng, Bách cũng có thể được.

Chữ khắc trong Ấn về mặt pháp văn thì vô cùng đa dạng, từ thời Hán Tấn trở lại đây Ấn Văn của Pháp Ấn Đạo Giáo đều mang chữ Triện thời xưa, hầu như tất cả các học giả đều có thể nhận biết được điều này, có những loại Ấn mà nội dung của nó có liên quan đến hệ thần linh của Đạo Giáo ví dụ như: Cửu Lão Tiên Đô Ấn, Linh Ngọc Đại Pháp Tư Ấn, Thượng Thanh Thiên Khu Viện Ấn, Thái Huyền Đô Tỉnh Ấn, Ngũ Lôi Sứ Viện Ấn, Bắc Cực Khu Tà Viện Ấn, Lôi Diên Tư Đô Ấn, tất cả những Ấn này đều mang tên của Vị Thần linh, về Phật Giáo cũng có dùng vài loại Ấn mà tôi biết như Kim Cương Đồng Tử Tùy Tâm Ấn, Ngọc Nữ Phụng Phù Ấn, Thế Tôn Ấn,…

Ấn pháp phát triển theo sự phát triển của Đạo Giáo và Phù Chú là nơi để cho Ấn Pháp phát triển theo nhiều nhất, Đạo Giáo trong thời kì Tống Nguyên phân thành hai môn phái lớn là Phái Kim Đan và Phái Phù Lục, trong đó phái Kim Đan lấy Nam Tông của Tử Dương và Bắc Tông của Ngọc Trọng Dương làm trung tâm, phái Phù Lục thì lấy truyền thống của các môn phái phát triển đời Hán Đường là Thiên Sư Đạo, Thượng Thanh Phái, Linh Ngọc Phái làm nền tảng, trong Môn Phù Lục đó lại phát triển ra các môn phái nhỏ và các pháp mới gồm các phái: Phái Bắc Đế, Phái Thần Tiêu, Phái Thanh Vi, Phái Đông Hoa, Phái Thiên Tâm, Phái Tĩnh Minh, trong đó Phái Thiên Tâm là người Việt Nam biết nhiều nhất vì ở miền Bắc có lưu truyền 4 bộ sách của Phái này, hiện nay còn lại 1 bộ là phổ thông nhất đó là Thiên Tâm Đạo Pháp Bí Lục, ngoài ra còn có phát triển thêm rất nhiều phái mới nữa mà giới huyền thuật gọi là “Thật Thập Nhị Gia Phù Pháp” trong hai đại phái Kim Đan và Phù Lục thì Phái Phù Lục vẫn phát triển mạnh nhất và Ấn Pháp cũng theo chân Phù Lục mà phát triển. Trong các tông phái về Phù Lục pháp thuật đều có khác nhau một chút nhưng tất cả đều phải dùng đến Pháp Ấn ví dụ như Thượng Thanh Phái, Linh Ngọc Phái, Bắc Đế Phái, Thần Tiêu Phái, Thanh Vi Phái, Đông Hoa Phái, Tĩnh Minh Phái, Thiên Tâm Phái đều có loại Pháp Ấn cho riêng mình, bởi vậy khi tôi có đọc một bài của một người tự xưng là học Pháp Thuật Đạo Giáo nói là cuốn sách Thần Tiêu Ngọc Cách Công Văn là sách lưu giữ tất cả các Ấn Pháp của các thầy bà, và chữ “Công” ở đây có nghĩa là tấn công tất cả các thầy bà, thì thấy thật là nực cười. Có lẽ vị này nên đọc và tìm hiểu kĩ về Ấn pháp lại thì mới có thể học phép Đạo Giáo được vì gốc của mình còn nắm không rõ thì còn làm gì được nữa chứ, trong tất cả các sách nói về Ấn Pháp người đọc nên tìm hiểu và xem những sách sau để hiểu rõ hơn về Ấn Pháp xin ghi ra các sách mà ghi chép rất đầy đủ và rõ ràng về các loại Ấn Pháp Đạo Giáo. Sách:

  • Thượng Thanh Linh Ngọc Đại Pháp.
  • Linh Ngọc Vô Lượng Thượng Kinh Độ Nhân Đại Pháp.
  • Linh Ngọc Lưỡng Giáo Tế Độ Kim Thư.
  • Thái Thượng Linh Ngọc Tĩnh Minh Pháp Thức Ấn.
  • Linh Ngọc Lục Đinh Bí Pháp.
  • Linh Ngọc Tĩnh Minh Tân Tu Cửu Lão Quân Ấn Phục Ma Bí Pháp.
  • Linh Bảo Ngọc Giám.
  • Quỷ Cốc Tử Thiên Tủy Linh Văn.
  • Đạo Pháp Hội Nguyên (còn gọi là Đạo Giáo Quy Nguyên).
  • Thái Thượng Nguyên Thủy Thiên Tôn Thuyết Bắc Đế Phục Ma Thần Chú kinh.
  • Thượng Thanh Lục Giáp Kì Đảo Bí Pháp.
  • Thái Thượng Bắc Cực Phục Ma Thần Chú Sát Quỷ Lục.
  • Thái Thượng Xích Văn Đổng Thần Tam Lục.
  • Thượng Thanh Bắc Cực Thiên Tâm Chính Pháp.
  • Thái Thượng Trợ Giúp Cứu Dân Tổng Chân Bí Yếu.
  • Cao Thượng Thần Tiêu Ngọc Thanh Chân Vương Tứ Thư Đại Pháp.
  • Thái Thượng Thông Huyền Linh Kinh Ấn.

Vạn Pháp Bí Tàng bộ số 1 quyển 22. Đây là những bộ sách nói về các loại Ấn thuộc Đạo Giáo trong số này có những sách nói về các Ấn Pháp của môn phái mà viết ra sách này, các Ấn Pháp được ghi chép hết sức tỉ mỉ về nghi thức và công dụng, cách làm, ngoài ra trong bộ Đạo Kinh cũng có ghi chép lại hàng trăm Ấn Pháp của Đạo Giáo về chức năng công dụng, cách dùng, và tên của Ấn Pháp, bộ sách này chỉ rõ về phương pháp và cách làm Ấn Pháp và đây chính là một tư liệu hết sức quý giá cho ai nghiên cứu chuyên sâu về Đạo Giáo.

Chức năng của Ấn

Theo như ghi chép trong các sách Đạo Giáo thì có rất nhiều chức năng của Pháp Ấn nhưng tựu chung là Pháp Ấn có những chức năng sau:

  • Vận chuyển Âm Dương, Thay đổi khí hậu, biến ngày thành đêm, tổng lĩnh gió mưa, sấm sét, (các loại Ấn dùng làm phép cầu mưa gọi gió).
  • Cải biến xuyên sơn trong địa lý, như khai sơn lấp hồ, thu phục mãnh thú, giáng hạ độc trùng, gọi long phục hổ, biến hóa được vạn vật, như có thể biến hoa mộc thành người, hoa quả tự sinh, thống nhiếp tam giới, khiển quỷ triệu thần, phục ma khu tà, diệt yêu tinh tà mị, tích binh trừ hại, bách trùng không phạm đến, phù nguy cứu khổ, cứu tế cô bần, trị bệnh khu tà, tảo trừ ôn dịch, nạp tài chiêu bảo, bảo hộ sanh nhân, bảo vệ lãnh thổ, luyện độ vong hồn, khai u khải minh, trừ thân uế độc, thông đạt chân linh (trích sách Đạo Giáo Quy Nguyên).

Theo như cách dùng Ấn ở trong sách trên nói thì tương đối rộng, các Ấn Pháp dùng trong các trường hợp cũng không hề giống nhau. Sách (Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp quyển số 27 có chép như sau: Chánh Nhất Pháp Lục thì dùng Cửu Lão Tiên Đô Ấn, Đồng Huyền Pháp Lục thì dùng Thông Chương Ấn, trong các nghi lễ của Đạo Giáo nhất thiết phải có những bài Tấu sớ phù Hịch hoặc thiếp điệp lúc đó thì sử dụng Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn, Khi cấp sắc cho đệ tử dùng phép cũng dùng đến Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn (trường phái pháp sư miền bắc còn các phái khác tôi không nắm được rõ lắm nên không dám nói càn) khi làm Bái Chương thì dùng Thông Chương Ấn, làm những bài cấp thiết tấu cáo thì dùng Hoàng Thần Việt Chương Ấn (ấn này rất nhiều tác dụng) Khi sử dụng việc triệu hồn thì dùng Thần Hổ Ấn, khi triệu thần nhiếp quỷ, bạt cứu vong hồn, thì dùng Khu Tà Viện Ấn, các loại Ấn Pháp thường có tác dụng rất là chồng chéo nên khi cần dùng pháp nào thì sẽ lựu chọn Ấn Pháp để làm, ví dụ như Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn ngoài những pháp kể trên ra Ấn này còn dùng được vào rất nhiều pháp khác. Có những loại Ấn Pháp, công dụng nhiều vô số kể hầu như là có thể làm được mọi việc ví như Lôi Bộ Hữu Lục Phù Bảo Ấn của Thần Tiêu Phái, Ấn này được làm bằng Đá Ngọc Bị Sét Đánh Vỡ ra lấy lõi của Đá đó làm Ấn hoặc dùng Đá Thiên Thạch để làm Ấn.

Cách làm Ấn

Cách làm Ấn Pháp cũng khác nhau rất nhiều thường mỗi pháp sẽ có cách làm Ấn riêng không có mẫu số chung ví dụ trong sách Linh Bảo Vô Lượng Độ Nhân Thượng Kinh Đại Pháp quyển 3 có ghi chung chung như sau: Ấn vuông 2 thốn 1 phân, dày 7 phân, dùng bằng gỗ cây Đào có cành quay về hướng Nam mà chặt, Sách Đạo Giáo Quy Nguyên lại ghi Ấn vuông 2 thốn 5 phân, tìm cây Táo mà làm chọn ngày Giáp Tý chế tạo Ấn, một sách khác nói về Thiên Bồng Ấn như sau: Ấn này vuông 2 thốn 5 phân, dùng thần mộc khắc Ấn, vậy theo như tất cả các sách về Đạo mà nói thì chủ yếu dùng gỗ Táo, Đào làm Ấn, và khắc Ấn nhỏ chỉ khoảng 3 cm mà thôi để tiện cho việc cầm nằm Ấn.

Phương Thức Chế Tạo Ấn

Về phương thức chế tạo Ấn Đạo giáo có hẳn 1 quy định rất nghiêm khắc từ khâu chọn vật liệu cho đến thời gian chế tạo, kích thước của Pháp Ấn, cho đến nghi thức tế Ấn và ý nghĩa của Ấn, nay tantric xin ghi chép ra từ các sách Đạo Giáo Quy Nguyên như sau : Phàm chọn gỗ để khắc Ấn không chọn những cây mà bị gió thổi nghiêng vẹo, chỉ chọn cây Đào, Táo bị sét đánh, có nhiều Sát khí, Sách Linh Bảo Vô Lượng Độ Nhân Đại Pháp Chép thêm là chọn ngày Bính, ngày Đinh để chặt hạ cây, ngày Hỏa Nhật thì đẽo gọt cho thành khối, sau đó chọn hướng Đông Nam mà chôn xuống Đất 7 thốn,đít Ấn thì để lộ trên mặt đất, thoa hương hoa vào Ấn, sau đó quỳ xuống Đất vái 3 lạy, thổi vô Chúc Ngôn chú vào Ấn, ngày thứ 7 thì đào lên, dùng nước sạch rủa hết đất ở Ấn đi, dùng hương bôi tắm cho Ấn, Phục Ấn, sau đó khắc hoa văn lên tay cầm Ấn, chọn ngày đinh rồi quay mặt về hướng Đinh, bước Đinh Hỏa Bộ Linh Cương, khi đó sẽ gặp Lục Đinh Ngọc Nữ, Lại tụng Chú sổ biến, dẫn khí từ khí bộ lên đỉnh đầu tức hoàn thành xong Ấn.

*** Cách làm Ấn trên Đây ghi quá vắn tắt cộng thêm không rõ sách nói là Ấn gì loại gì nhưng theo tôi thì có thể đây là cách khắc Ấn Lục Đinh Ngọc Nữ, Pháp này sẽ có ở những phần sau của bộ sách này, người xem nên lưu ý mà nghiên cứu đối chiếu.

Đạo Pháp Hội Nguyên lại có ghi về nghi thức của Ấn Pháp gồm có Tạo Ấn, Tế Ấn, Khai Ấn, Hành Ấn, Hạ Ấn, Nhập Ấn, cách chế Ấn của sách này lại viết thêm: Dùng gỗ của cây táo, vào ngày Giáp Tý, mùa hạ ngày Bính Ngọ, khắc ấn trong một ngày tuyệt đối không được quá, Khai Ấn chú viết như sau:

Chú Khai Ấn

Thiên ấn linh linh, thiên bồng nguyên suất xá hành, khu tà pháp chủ giam ấn, thiên đinh lực sĩ phụng hành, tà đạo văn chi não liệt, bệnh nhân kiến tắc an trữ, hung ác vi họa giả điệt, từ thiện vi phúc giả sanh, cấp cấp như luật lệnh.

*** Chú khai Ấn này trong 1 vài trường hợp cũng được dùng khi đóng ấn lên bùa thì niệm khai Ấn này.

Khi khai Ấn cần phải tế Ấn, khi Tế Ấn phải chọn các ngày Giáp Tý, Canh Thân, Tam Nguyên, hoặc Bát tiết dạ tử thời, hoặc ngày mồng 5 tháng 5 mùa hạ thì chọn ngày Bính ngọ để làm 1 bản tấu, chuẩn bị hoa quả, hương hoa, đèn nến, quay về hướng Bắc Đẩu hạ Ấn , bản tấu trạng dùng để báo cáo với các vị Chu Tam Đại Tướng Quân, Thiên Y trì Bệnh Công Tào Sứ Giả, sau đó tam bái thắp nhang lên lò hương bài tế như sau

Bài Văn Tế Ấn

Chữ Hán:

臣姓某虔诚上启中天北斗九皇尊帝、天丁力士、三真君、功曹使、

斗中圣众。臣草芥微

生,樗栎朽质,冒参上法,受庇玄穹,于某年月日投某人门下,拜

受北极天蓬正法,自佩受以来,朝修不常,动违天宪,南宫无纪善

之名,北府有纠非之字。登坛受法之际,对师有约,誓当佐天行化

助国救民,依法命工刊造法印。兹遇吉辰,虔修蘸祭,伏乞上真流

降真气,下入印中令臣佩奉,宣宏道法,所指如心,驱邪治病,获

遂通灵。下副臣修持之愿。臣谨诚惶诚恐,稽首顿首再拜,谨言

Dịch Nghĩa

Thần tính … (Tên người đọc) kiền thành Thượng Khải Trung Thiên Bắc Đẩu Cửu Hoàng Tôn Đế, Thiên Đinh Lực Sĩ, Tam Chân Quân, Công Tào Sứ Giả Đẩu Trung Thánh Chúng. Thần Thảo Giới Vi Sanh, Xư Lịch Hủ Chất, Mạo Tham Thượng Pháp, Thụ Tí Huyền Khung, vu … niên … nguyệt … nhật đầu mỗ nhân môn hạ, bái thụ Bắc Cực Thiên Bồng Chính Pháp, tự bội thụ dĩ lai triều tu bất thường, động vi thiên hiến, nam cung vô kỉ thiện chi danh bắc phủ hữu củ phi chi tự. Đăng đàm thụ pháp chi tế, đối sư hữu ước thệ đương tá thiên hành hóa, trợ quốc cứu dân, y pháp mệnh công khan tạo pháp ấn. Tư ngộ cát thần, kiền tu trám tế, phục khất thượng chân lưu hàng chân khí, hạ nhập ấn trung, lệnh thần bội phụng, tuyên hoành đạo pháp, sở chỉ như tâm, khu tà trì bệnh, hoạch toại thông linh. Hạ phó thần tu trì chi nguyện. Thần cẩn thành hoàng thành khủng, khể thủ đốn thủ tái bái, cẩn ngôn.

Tế xong thì tờ hiến trạng này và tiền mã phải đem cống Thượng Đẩu Chân Nguyên Suất, Đại Tiên Thần Tướng, đem Ấn đang lên đàn để báo cáo thần.

Khi dùng các Ấn để trị bệnh tà ma phải tụng Ấn chú như sau:

Bài Niệm Ấn Chú

Can tượng thiên linh, khôn dĩ vận tái, bất đắc vi thời, chu nhi phục thủy Thiên đinh thụ ngô thần ấn, lục giáp vệ ngô thân hình, hà thần bất tòng hà quỷ cảm đương. Ngô ấn chỉ thiên thiên khuynh, chỉ địa địa liệt, chỉ nhân nhân trường sinh, chỉ quỷ quỷ tuyệt diệt, chỉ san san băng, chỉ thủy thủy kiệt, chỉ vân vân thư, chỉ mộc mộc chiết, chỉ phong phong đình, chỉ vũ vũ hiết, đế quân thụ ngô thần ấn hóa nhiếp, nhữ đẳng hữu vi ngô lệnh, tứ chi phục chiết, cấp cấp như thiên đế luật lệnh sắc.

 Sau đó lại tụng dưới Ấn chú:

 “Tam ngũ đường đường, nhật nguyệt vi quan , âm dương giao hội, tứ thời trung ương, thần ấn nhất hạ, vạn quỷ diệt vong cấp cấp như luật lệnh.

Nếu dùng Ấn đóng lên người lại phải niệm nhập Ấn chú như sau:

Thiên đinh lực sĩ nhập thiên ấn, mãnh liệt tà ma hóa tác trần. Cấp cấp như thiên đế luật lệnh sắc.

Sau đó định hơi hít cương khí vào thì muôn tà tinh không xâm nhập được (phép này dùng cho bản thân cũng tốt).

(Trích Đạo Giáo Quy Nguyên)

Sách Đạo Giáo Quy cũng chép về cách tạo Ấn như sau: chọn ngày Giáp Tý, dùng lõi cây táo bị sét đánh, chọn ngày mồng 5 tháng 5 hoặc ngày Giáp Tý mùa xuân, mùa hạ thì chọn ngày Bính ngọ để khắc Ấn, khi thụ trì ấn thì chọn ngày giáp để nhập thất hoặc tịnh thất, sau đó an trí Ấn, làm lễ báo cáo, sau đó thượng hương, rồi làm lễ khai Ấn.

*** Cụ thể lại về những gì các sách đạo giáo nói về cách khắc Ấn Tantric xin tóm lược lại như sau, các đạo sĩ muốn khắc Ấn phải chọn những loại gỗ Đào, Gỗ Táo, Gỗ Bạch Đàn, Gỗ Tùng, Gỗ Bách, thứ tự là như vậy loại Ấn càng quan trọng dùng được những việc lớn thì chọn gỗ Đào, gỗ Táo, còn những Ấn Pháp dùng vào những việc bình thường có thể chọn Bạch Đàn, Tùng , Bách. Ngày tế tự và làm Ấn thường là ngày Giáp Tý mùa xuân, hoặc ngày Bính mùa hạ, có thể chọn thêm ngày mồng 5 tháng 5, ngày làm Ấn thường chọn ngày Canh Thân, kiêng kị người khác dòm ngó thấy, việc làm ấn sẽ gồm có chặt cây thường chọn cành hoặc cây hướng đông nam, khắc Ấn, Tế Ấn, Khai Ấn, Ấn thường được cho vào 1 cái túi nhung hoặc đặt vào 1 hộp gỗ sơn son thiếp vàng để nơi cao ráo. Đó là những nghi lễ chung của việc làm Ấn, còn việc khắc Ấn thì mỗi loại có 1 cách làm và 1 cách khắc riêng tựu chung về những phần chính là như trên đây. Dưới đây là hình thức và công dụng của những Ấn Pháp Quan Trọng của Đạo Giáo, những Ấn pháp này sử dụng hầu hết trong tất cả các pháp của Đạo Giáo kể cả những bí pháp.

Một số hình ảnh về Ấn

Cảnh Báo: Tất cả những Ấn Pháp dưới đây đều là sự đại diện cho uy quyền và pháp lực của Chư Tiên, Chư Thánh, cho nên các Ấn ở dưới đây khi chế tạo hoặc làm phải hết sức lưu ý, cũng không nên đem ấn này ra ngoài để làm trò bình phẩm bởi vậy là phạm vào Tiên Chúng sẽ bị trừng phạt rất nặng nề, học giả nghiên cứu nên hiểu điều này mà giữ gìn, bởi tại sao bấy lâu nay không hề thấy có sách hoặc tài liệu hình ảnh về Ấn Pháp là bởi sự kiêng kị này, những điều trên học giả và người nghiên cứu nên nhớ kĩ.

Hình thức các loại Ấn Đạo Giáo

Đạo Kinh Sư Bảo Ấn

Đạo Sư Kinh Bảo Ấn

Đạo kinh sư bảo ấn: Đạo kinh sư ngọc ấn là đại diện cho cảnh giới cao nhất của đạo giáo, ứng dụng của pháp ấn trong đạo giáo rất rộng và phổ cập, chế tạo ấn chương, dán phát bùa, siêu độ vong hồn, tiễn thần quỷ, khai sáng văn minh

Phật Pháp Tăng Bảo Ấn

Phật Pháp Tăng Bảo Ấn

Phật pháp tăng ngọc đại diện cho cảnh giới cao nhất của phật giáo, ứng dụng của pháp ấn trong phật giáo rất rộng rãi và phổ cập, chế tạo ấn chương, dán phát bùa, siêu độ vong hồn, tiễn thần quỷ, khai sáng tranh tượng.

Ngọc Hoàng Ấn

Ngọc Hoàng Ấn

Loại ấn này tượng trưng cho uy quyền và thần thông của ngọc hoàng đại đế. Loại ấn này cũng là ấn rất quan trọng trong Huyền Môn Đạo Giáo, dùng trong việc thâu binh quỷ, làm sắc lệnh phù, tựu chung là ấn của vị vua cao nhất trong hệ tiên chúng của Đạo Giáo.

Trương Thiên Sư Ấn

Trương thiên sư ấn

Trị các loại tà ma, bệnh tật. Ấn này còn có tác dụng nữa là để chữa bệnh tà nhập xác, ấn đại diện cho uy quyền của Trương Thiên Sư mọi loài yêu ma quỷ mị khi thấy ấn này đều hết hoảng kinh sợ, ấn được dùng thêm trong những bùa trấn trạch và trừ tà của Trương Thiên Sư.

Ấn hữu hình là những loại ấn nói ở trên dùng vật liệu như: Vàng, đồng, đá, gỗ,… làm khắc ra một cái Ấn.

Còn Ấn vô hình là sự tu hành được ơn trên giao phó truyền cho cái ấn: đồng nghĩa với sự chứng nhận và để đống Ấn giúp người khác. Đã đủ công năng công hạnh… tùy theo khả năng mỗi người mà được truyền Ấn.

Như Ấn Quan Âm thì sẽ có bình thủy nước cam lồ nhành dương liểu công dụng trừ tà chuyển tâm giúp người.

Và còn đống Ấn giúp những đứa con nít không bệnh hoạn khỏe mạnh. Đó là những Ấn thường, còn những Ấn lớn thì cũng như những cái Ấn mình khắc tùy vào người vị nào trao khi được trao thì vạn kiếp về sao ấn đó mình vẫn còn cho đến khi tu thành Phật đạo, và sẽ không bao giờ đi lạc được vì khi đi lạc sẽ có chư thiên kéo lại.

You may also like

Leave a Reply