khái niệm trường sinh học trong vật lý

Khái niệm trường sinh học trong vật lý

by Pao Pevil
86 views

Đã có quá nhiều bài viết về đề tài hấp dẫn song đầy cạm bẫy này. Sự hào hứng đại chúng luôn đi kèm sự nghi ngờ chính thống, để làm người viết hoặc bị sự hào hứng lôi cuốn, hoặc bị sự nghi ngờ giầy vò. Điều quan trọng hơn là, cả hai khuynh hướng đó, bài viết thường thiếu thông tin đa chiều, mà chỉ thiên về ủng hộ hay phản đối với một phương pháp luận chưa hoàn chỉnh, một lượng thông tin thiếu tính toàn cục. Để bàn tương đối thấu đáo bài toán đặt ra, cần trả lời các câu hỏi sau. Thứ nhất, có tồn tại những khả năng dị thường, “siêu nhiên” như thần giao cách cảm, viễn di sinh học, chữa bệnh từ xa,… hay không? Thứ hai, có thể giải thích những khả năng đó – nếu chúng tồn tại – trên cơ sở kiến thức khoa học hiện nay được không? Thứ ba, trường sinh học là một thực tế khách quan hay một sự suy luận trừu tượng chủ quan? Hai câu hỏi sau liên quan trực tiếp với nhau nhờ một vài câu hỏi khác: để giải thích thế giới sống, có cần một “vật lý mới” hay không, và chúng ta đã hiểu gì về khả năng của “vật lý cũ” trong bài toán đó? Không thể trả lời các câu hỏi đó trong một bài viết. Vì vậy tôi chỉ xin đưa ra những thông tin, những suy luận hết sức cô đọng hòng rộng đường dư luận. Bạn có thể đọc qua bài viết Khái niệm về dị thường.

Về khái niệm trường sinh học trong vật lý

Thật ngắn gọn, trường là dạng tồn tại của vật chất mà các tương tác cơ bản được thực hiện thông qua nó. Tương ứng với bốn dạng tương tác đã biết (tương tác hấp dẫn, tương tác điện từ, tương tác yếu và tương tác mạnh), ta có bốn loại trường: trường hấp dẫn, trường điện từ, trường tương tác yếu và trường tương tác mạnh. Rất nhiều nhà khoa học, trong đó có Einstein vĩ đại, đã cố gắng thống nhất chúng thành một trường duy nhất, thể hiện sự thống nhất của vũ trụ. Hiện Salam và Weinberg đã thống nhất được trường điện từ và trường tương tác yếu.

Về các kênh thông tin vật lý của cơ thể

Con người là một tiểu vũ trụ, người xưa nói vậy. Nhận định mang tính tiên tri đó có thể làm chúng ta kinh ngạc khi đến tận thập niên cuối của thế kỷ này, khả năng tiềm ẩn của con người vẫn được xem là không thể hiểu, và khái niệm trường sinh học đã được dùng như một biện pháp cứu cánh. Nhưng chúng ta đã hiểu gì về các “trường” vật lý – chính xác hơn là các kênh vật lý – của bản thân chúng ta?

Những tín hiệu điện của cơ thể, như điện tim chẳng hạn, đã được đưa vào thực hành y học từ lâu. Nói cách khác, điện trường của cơ thể là khái niệm không xa lạ. Nhưng từ trường tần số cực thấp, bức xạ hồng ngoại và bức xạ siêu cao tần, sự huỳnh quang hóa và các tín hiệu âm thanh cùng vi sinh quyển khí của cơ thể lại là những gì chưa quen thuộc. Lý do: các tín hiệu đó có cường độ vô cùng nhỏ yếu, khiến các kỹ thuật ghi đo gần đây mới nắm bắt được chúng. Xin đưa vài ví dụ.

Từ trường của não có độ cảm ứng từ cỡ 10-14 Tesla, trong khi giá trị tương ứng của từ trường trái đất là 10-5. Dễ hình dung phép đo một tín hiệu nhỏ hơn can nhiễu một tỷ lần ( ! ) sẽ gặp những khó khăn gì. Thiết bị Giao thoa lượng tử Siêu dẫn SQUID (Superconducting Quantum Interference Device) với những đầu đo đặc biệt nhúng trong heeli lỏng nhằm khử các thăng giáng nhiệt đã khắc phục được chúng. Do quá đắt tiền, cỡ 2 triệu đô la Mỹ, SQUID mới được trang bị cho vài phòng thí nghiệm cao cấp.

Ví dụ khác là bức xạ hồng ngoại với công suất 10-12w/cm2 ở các đầu ngón tay, nằm ở vùng bước sóng 8 – 14 micromet. Tự nhiên thật tối ưu khi “chọn” cho con người vùng bước sóng đó, vì nó trùng với “cửa sổ trong suốt” của khí quyển mà qua đó, trái đất thải vào vũ trụ phần năng lượng dư nhận từ Mặt trời. Ở một số người, công suất bức xạ hồng ngoại có thể lên đến 300W! Massage không tiếp xúc được giải thích bằng các bức xạ này, khi chúng có thể nâng nhiệt độ da người được massage đến 1 – 2oC ở khoảng cách chục mét. Điều này đã được khẳng định chắc chắn bằng thực nghiệm. Đáng chú ý là bức xạ đó được cơ thể tiếp nhận dễ dàng (ngưỡng cảm giác da là 10-14W/cm2) nhưng chúng không đủ để da nóng lên đến như vậy. Có nghĩa có một cơ chế khuếch đại sinh học đặc biệt nào đó tham gia vào quá trình này. Đây cũng là một đặc điểm của các cơ thể sống. Khả năng khuếch đại của các cơ chế đó thật đáng ao ước: chỉ một phần tử mùi hương duy nhất từ con bướm cái cũng có thể dẫn tới sự thay đổi tập tính của con đực (động dục). Trong các hiện tượng thuộc về “trường sinh học”, vai trò của các cơ chế tiếp nhận, khuếch đại và xử lý tin như vậy, theo chúng tôi có thể là yếu tố quyết định. Minh chứng cho nhận định trên là hiện tượng một số người có khả năng đọc hình vẽ trên giấy trong một chiếc phong bì kín đặt trên trán, do trở nhiệt khác nhau mà giữa phần hình vẽ vào phần trắng có độ chênh nhiệt độ đến 0.1oC, đủ để da “cảm giác” được.

Một thí dụ khác là khí công. Các nhà khoa học Đại học Vũ Hán đã tiến hành một thí nghiệm đặc biệt, được các nhà khoa học Mỹ khẳng định lại. Họ đặt hóa chất O-N-propyl-O-allylthiophosphoramide trong một chiếc hộp và cho nhà khí công vận công tác động từ bên ngoài. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân của hóa chất được đo trước và sau tác động. Kết quả thật đáng kinh ngạc: phổ NMR thay đổi, cho thấy nhà khí công đã phát ra bức xạ điện từ! Còn động tác múa may của nhà khí công? Theo Jame Ma, giáo sư vật lý của Đại học Hồng Kông, nhà khí công múa theo một nhịp điệu xác định (tần số xác định) là để các proton của nước trong cơ thể hấp thị năng lượng của trường địa từ theo cơ chế cộng hưởng từ hạt nhân! Chúng tôi xin bổ sung hai vấn đề. Thứ nhất, các trường điện từ điều trị, trường địa từ và các từ trường sinh lý tác động cơ thể chủ yếu qua các cơ chế cộng hưởng (cộng hưởng cyclotron, cộng hưởng Jacobson, cộng hưởng Schumann,…) vì chúng có cường độ rất yếu. Thứ hai, hiểu biết về nước cấu trúc trong cơ thể đã có bước phát triển về chất, từ một môi trường hỗn loạn sang một cấu trúc giả tinh thể phù hợp về cấu hình các đại phân tử sinh học. Điều đó cho phép tạo cấu trúc “đơn vị sinh học – cơ chất nước” như một không – thời gian sinh học đặc biệt, để thực hiện các hiện tượng tập thể và cộng hưởng, có thể là không thể thiếu trong các hiện tượng “siêu nhân”.

Ví dụ còn rất nhiều nhưng chúng tôi xin dừng ở câu hỏi: Vậy các kênh vật lý đó được dùng làm gì? Theo ý kiến cá nhân, ngoài kênh hóa học mà khoa học biết khá rõ trong việc chuẩn đoán bằng xét nghiệm hóa sinh và điều trị bằng thuốc (hóa trị liệu), chúng được dùng như những kênh thông tin nội bộ và như những “cửa sổ” liên lạc với môi trường. Chúng có ý nghĩa thực tiễn ra sao? Rất to lớn. Thứ nhất, với các thiết bị ghi đo thích hợp (đáng tiếc là đắc tiền!) chúng có thể giúp các nhà nghiên cứu đánh giá trạng thái chức năng cơ thể. Thứ hai, qua các kênh đó, tác nhân vật lý ngoài tham số phù hợp có thể tác động tới một quá trình sống. Có nghĩa chúng có vai trò có thể rất to lớn trong chuẩn đoán và điều trị bằng các tác nhân vật lý.

You may also like

Leave a Reply